Phạm Chí Dũng
Người Việt
Kết quả hình ảnh cho hinh anh bế tắc
Đây là một câu hỏi mà từ năm 2013 đến nay, khá nhiều trí thức được gọi chung là “bất đồng chính kiến,” đặc biệt là những người phản biện nhưng vẫn chưa quyết định ra khỏi đảng Cộng Sản, quan tâm và có phần còn kỳ vọng.
Chỉ có điều, thoát thân từ trong lòng chế độ nhưng có hiểu được tim gan của chế độ đó hay không lại một chuyện không dễ. Thực tế chua chát đã phản lại kỳ vọng đó.
“Quăng phao” nhưng sao không “ôm phao?”
Vào năm 2013 khi lần đầu tiên diễn ra một phong trào trí thức đối lập rộng lớn có tên là “Kiến Nghị 72” đòi bỏ Điều 4 Hiến Pháp, nhóm trí thức bất đồng đã yêu cầu các nhân vật tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ cần đối thoại để tìm ra lối thoát cho dân tộc. Nhưng Bộ Chính Trị im bặt.
Sang năm 2014, khi nổ ra vụ hạ đặt giàn khoan HD 981 của Trung Quốc ở Biển Đông, giới trí thức trong nhóm này và trong vài nhóm trí thức khác lại yêu cầu Bộ Chính Trị phải đối thoại để xử lý dứt khoát vấn đề đối sách với Bắc Kinh. Bộ Chính Trị vẫn im bặt.
Từ năm 2015 đến nay, “Nhóm 61” – một tập hợp mới của một số trí thức đảng viên và những người thuộc phong trào học sinh và sinh viên ở Sài Gòn trước năm 1975 – đã vài lần gửi thư yêu cầu cho Bộ Chính Trị, vẫn về nhu cầu đối thoại và ít nhất “một cuộc gặp.” Nhưng từ Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trở xuống, không một quan chức nào hồi âm.
Kỳ vọng có được một cuộc đối thoại đúng nghĩa cũng bởi thế ngày càng vô vọng.
Thậm chí không có nổi lấy một cuộc gặp cho ra gặp giữa giới quan chức với “trí thức bất đồng.”
Vì sao lại ngơ ngác như thế?
Có một cái gì đó trục trặc hoặc tính toán không khớp của những người muốn đối thoại chỉ với “thành viên Bộ Chính Trị.” Trong vài năm gần đây, đã xuất hiện quan điểm “Chúng ta đối thoại là quăng phao cho họ” của một số trí thức muốn đối thoại. Cơ sở chính của tư tưởng “quăng phao” này là chế độ Cộng Sản đã ở vào giai đoạn cuối và hoàn toàn bế tắc, do vậy “họ” rất cần một lối thoát thông qua cơ chế đối thoại với trí thức và người dân.
Quan điểm trên vừa có lý nhưng lại cũng có phần không thực tế. Hiển nhiên, nếu so sánh với thời Việt Nam vào WTO năm 2007 và các đại hội đảng trước đây thì nay phần lớn phạm trù kinh tế – chính trị đã biến thái theo sắc màu quá tiêu cực, số phận đảng trở nên mong manh chưa từng có trong suốt chiều dài lịch sử luôn được tuyên truyền là “quang vinh” của nó. Thế nhưng vì sao đến tận lúc này đảng vẫn không chịu đối thoại với trí thức bất đồng theo cách mà chính quyền Liên Xô đã đối thoại với nhóm dân chủ của Viện Sĩ Sakharov vào những năm cuối thập kỷ 1990 của thế kỷ trước?
Rõ là chưa có một cuộc đối thoại nào để chính quyền Việt Nam có cơ hội “ôm phao.” Trong hai năm 2014 và 2015, có diễn ra vài lần lãnh đạo cơ quan tuyên giáo và Hội Đồng Nhân Dân TPHCM “mời cà phê” với một số trí thức bất đồng. Cứ tưởng những lãnh đạo này sẽ bắt đầu lắng nghe ý kiến phản biện và sau đó còn có cơ chế đối thoại thường kỳ, nhưng té ra chỉ là buổi khuyên can “các chú/các anh thôi đừng đi biểu tình làm gì,” hay “không nên gửi thư kiến nghị cho trung ương nhiều quá,” để cuối cùng lại “mọi việc đã có đảng và nhà nước lo.”
Người được coi là “cải cách” nhất trong giới lãnh đạo cấp địa phương cũng chỉ ngồi nghe các trí thức bất đồng giãi bày tâm tư, bức xúc, nhưng sau đó chẳng có bất kỳ hồi âm nào cho những tình cảm sốt ruột tuổi tác này.
Vậy câu hỏi trần trụi cần đặt thẳng ra là giới lãnh đạo Việt Nam có nhu cầu đối thoại và có muốn đối thoại, hay là không?
Đảng có nhu cầu đối thoại hay không?
Chỉ đến gần đây mới xuất hiện ý kiến “rút kinh nghiệm” rằng chỉ có thể thực hiện được đối thoại và có được kết quả với hai điều kiện: Giới lãnh đạo có nhu cầu đối thoại, những người muốn đối thoại có được sự ủng hộ đông đảo và rộng rãi của các tầng lớp nhân dân.
Nhiều trí thức cũng tự hỏi là cần phải làm gì để tạo điều kiện cho cuộc đối thoại ấy sẽ diễn ra.
Lại có ý khác cho rằng không còn hy vọng gì đối với lãnh đạo trong nước sau đại hội 12. “Họ” đã hết thuốc chữa sau khi đã tranh thủ được Mỹ thỏa mãn về cả ba mặt: chính trị (tôn trọng chế độ hiện hữu), kinh tế (dễ dãi các điều kiện TPP) và quân sự (bán vũ khí sát thương). Do chưa có điều kiện xuất hiện những tổ chức chính trị đối lập, cũng như chưa hình thành được một xã hội dân sự đủ mạnh để làm đối trọng với chính quyền, nên cuộc đối thoại phải do phía đảng độc quyền lãnh đạo chủ động mời gọi để tránh một cuộc xung đột không được kiểm soát không thể không xảy ra nếu có thêm nhiều tiếng súng nữa tương tự như chín tiếng mới phát nổ ở Yên Bái vừa qua. Vấn đề là làm thế nào để cho “phía đảng độc quyền lãnh đạo chủ động mời gọi?”
Phải làm gì, trong lúc trí thức bất đồng thì không kìm được nỗi sốt ruột năm tháng, nhưng những người được đề nghị đối thoại lại ngoảnh mặt làm ngơ?
Một ý kiến khác, thực tế hơn, cho rằng đừng hy vọng gì về “bản lĩnh đối thoại” của giới lãnh đạo ngày nay. Họ còn đang phải dành đến 99% thời gian và tâm trí để lo đối phó triệt hạ nhau trong nội bộ, lấy đâu ra hơi sức để ngồi nói chuyện với mấy ông trí thức. Mà cứ nghe đến trí thức là họ lại lắc đầu quầy quậy.
Trường hợp hiếm hoi trong những năm qua là ông Trương Tấn Sang, một nhân vật lãnh đạo có đôi chút tiếp cận với giới trí thức đa chiều và kể cả trái chiều quan điểm. Thời còn là chủ tịch nước, ông thỉnh thoảng chủ động tổ chức một cuộc gặp “anh em trí thức” tại nhà ông, trong đó có những gương mặt có hơi hướng bất đồng. Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ dừng lại ở đó, gặp gỡ có vẻ thân tình nhưng phát biểu chung chung, ăn uống với nhau một lát rồi ai về nhà nấy.
Trong khi đó, từ ông Nguyễn Phú Trọng đến ông Nguyễn Tấn Dũng, và ông Nguyễn Sinh Hùng và các nhân vật Bộ Chính Trị sau đó, chẳng thấy ai làm được dù tối thiểu như ông Sang.
Có vẻ như đảng chưa có nhu cầu đối thoại, ít ra cho đến lúc này.
Chưa kể đến sĩ diện của đảng là cao vời vợi, dù sắp chết đến nơi vẫn còn vời vợi cao. Tâm lý đầu tiên và luôn có là “ta đường đường là ủy viên Bộ Chính Trị, sao phải hạ mình ngồi ngang hàng và nói chuyện với mấy tay trí thức chỉ là đảng viên thường?”
Chưa kể đến việc nếu có xảy ra một cuộc đối thoại trong mơ, cái gì sẽ được nói ra? Chẳng lẽ giới lãnh đạo đầy sĩ diện và ảo tưởng quyền lực lại chịu ngồi im để nghe “đám trí thức nhiều chuyện” răn dạy sự cần kíp phải bỏ ngay Điều 4 Hiến Pháp, chấm dứt ngay sự độc tôn lãnh đạo của đảng cầm quyền, thoát Trung và cả thoát Cộng, chống tham nhũng từ ngay trong nhà mình… Toàn những chuyện quá khó nghe và quá khó nuốt! Toàn những chuyện “bỏ đảng là tự sát!”
Về phần mình, như một số trí thức bất đồng đã tự nhìn lại, những người muốn đối thoại chưa phải, hoặc còn lâu nữa mới trở thành một đám đông đủ mạnh để buộc đảng cầm quyền phải tỏ ra tôn trọng và ngồi vào bàn đàm phán.
Tương lai đối thoại cũng vì thế vẫn một màu xám xịt.
Nhưng lại vẫn có những tình huống mà dù muốn hay không, chính quyền cũng phải “chủ động mời gọi đối thoại.”
Khi nào đảng sẽ phải “chủ động đối thoại?”
Gần đây, nhận thấy việc cưỡng chế vài cơ sở tôn giáo là quá khó, chính quyền đã phải phát thư mời cho những cơ sở tôn giáo này, đề nghị đến trụ sở chính quyền để “đối thoại.” Cần lưu ý, rất nhiều trường hợp chính quyền cưỡng chế giải tỏa đất của dân đã chỉ dùng từ “vận động” mà không hề quan tâm đến cơ chế đối thoại.
Hoặc do không thể đàn áp được phong trào biểu tình phản đối Formosa của giáo dân và ngư dân ở miền Trung lên đến vài chục ngàn người, chính quyền địa phương đang buộc phải tìm cách thương lượng, đối thoại và thỏa mãn một phần yêu sách của người biểu tình, chủ yếu thông qua đại diện cấp sở ngành.
Đối thoại đã manh nha thành hình như thế, ở những nơi và vào những thời điểm cực chẳng đã đối với chính quyền, ở cấp địa phương mà không phải cấp trung ương, đối thoại với nông dân, ngư dân, tiểu thương – những người bị coi là “sắp làm loạn” – chứ không phải với những trí thức “chưa nguy hiểm lắm.”
Đó là kịch bản khả dĩ nhất về đối thoại ở Việt Nam hiện thời và trong những tháng tới.
May ra đến cuối năm 2017 hoặc đầu năm 2018, khi chính thể Việt Nam phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng toàn diện về phá sản kinh tế, vỡ nợ ngân sách, phản kháng xã hội bùng nổ và có thể cả một cuộc tấn công vừa phải của Trung Quốc, giới quan chức lãnh đạo cao cấp mới cuống cuồng ngó ngàng đến “nhu cầu đối thoại” và mới bắt đầu tìm đến vài ba tổ chức hội đoàn độc lập, thay vì đối thoại với cả xã hội dân sự.