Hoàn Nghi (VNTB) Đối với Hoa Kỳ, một “Trung Quốc trỗi dậy” là một thách thức mới. Đối với Việt Nam, đó là sự nhắc lại một chủ đề lịch sử ngàn năm. Tìm kiếm quyền bá chủ của Trung Quốc trên vùng Biển Đông đã làm xói mòn tính hợp pháp của chính quyền cộng sản Hà Nội. Nhưng khá trùng hợp, nó tạo gia tốc cho một sự thỏa hiệp chiến lược giữa Hà Nội và Washington, theo ông David E. Brown – một cựu đại sứ ngoại giao tại Việt Nam trong một bài viết trên Brookings(*).
 Quan hệ Mỹ-Việt hiện nay đang phát triển trong sự muộn màng không thể tránh khỏi của địa chính trị. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), nhưng ý niệm của người dân về một quan hệ mật thiết với Mỹ là rất phổ biến (96%). Thịnh vượng và tương lai của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào việc tiếp cận thị trường Mỹ và các đồng minh gắn liền với vốn và công nghệ. Tuy nhiên, bản thân Việt Nam phải tìm ra được ý chí chính trị để cải cách thể chế – điều đã đến sự hạn chế trong phát triển.

40 năm sau khi chiến tranh kết thúc, “chiến tranh chống Mỹ” không còn dấy lên những cảm xúc mạnh mẽ ở Việt Nam. Từ năm 1988, Hà Nội đã thông qua chính sách đối ngoại với mục tiêu “thêm bạn, ít thù.” Chế độ này không có sự lựa chọn bởi thực tế diễn ra sau đó: tập thể hóa nông nghiệp, xây dựng ngành công nghiệp nặng và phân bổ hàng hóa theo một kế hoạch tập trung đã thất bại. Khối Liên Xô tan rã đã chấm dứt sự viện trợ – vốn chống đỡ nền kinh tế Việt Nam, trong khi lệnh cấm vận thương mại của Mỹ vẫn còn hiện hữu.

Hà Nội bắt tay vào “đổi mới”, hay cải cách kinh tế. Đại hội Đảng đã mở đường cho Việt Nam đi vào nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, ‘ một bước đi rất giống chủ nghĩa tư bản. Thật vậy, tư nhân hóa đã lấp những chỗ trống trong nền kinh tế mà doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã tạo ra. Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của khu vực DNNN đã không bị xóa bỏ, và sở hữu tập thể đất – vẫn được giữ lại.

Đó là quá trình chuyển đổi kinh tế-xã hội chưa được hoàn thiện nhưng đủ để đáp ứng cho một vài thập kỷ. Nền kinh tế của Việt Nam sau “đổi mới” đã tăng khoảng 7%. Xuất khẩu gạo, cá, cà phê và hạt điều tăng vọt. Các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan tìm đến với vốn và công nghệ, thúc đẩy ngành công nghiệp may mặc và giày dép, lắp ráp đi lên. Đời sống của đại đa số khá hơn. Mặc dù sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng rõ rệt.

Đến năm 2007, Việt Nam được kết nạp vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), trở thành trụ cột của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và thu nhập bình quân đầu người đã lên đến 1.000 USD, gấp mười lần so với năm 1989. Hà Nội bắt tay xây dựng với hàng chục mối quan hệ nước ngoài. Đặc biệt đáng kể là mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Việt Nam và ý thức mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ

Luôn luôn khó chịu và yêu cầu sự tôn trọng mà một người em trai tìm kiếm ở một người cao tuổi – Trung Quốc là một vấn đề trọng tâm cho những nhà chính trị Việt Nam trong hơn một ngàn năm. Tiểu đoàn của Hồ Chí Minh không thể bào mòn quân đội Pháp và Mỹ mà không cần trợ giúp từ Mao của Trung Quốc. Sau này, khi Hà Nội muộn màng theo nghiệp Bắc Kinh với lựa chọn “con đường tư bản chủ nghĩa”, lãnh đạo Hà Nội ưu tiên cao trong quan hệ các cấp (Đảng lẫn Chính phủ) với Trung Quốc.

Tuy nhiên, thường thì quan hệ với Bắc Kinh khá bất ổn. Một chủ đề đeo đẳng lịch sử Việt Nam là kháng chiến chống quân xâm lược, và đội quân Trung Quốc hiện diện thường xuyên nhất. Gần đây nhất là năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã tìm cách để “dạy cho Việt Nam một bài học” khi Hà Nội xóa bỏ chế độ Pol Pot ở Campuchia.

Sau khi quan hệ ngoại giao đã được khôi phục vào năm 1995, Hoa Kỳ đã trở thành một thị trường béo bở cho hàng hóa Việt Nam. Tuy nhiên, Đảng tiếp tục cảm nhận một mối đe dọa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin trong đời sống chính trị Việt Nam. Khi vẫn còn nhận diện Mỹ không từ bỏ ý định thù địch với “xã hội dân sự” và “chủ mưu các lực lượng diễn biến hòa bình.”

Chừng nào nền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc tăng trưởng bền vững, thì độ nghiêng của Hà Nội đối với Trung Quốc và cảm tình của người dân đối với Hoa Kỳ là một bất đồng quản lý được.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, chế độ Hà Nội dò dẫm những bước đi trong cơn đại suy thoái toàn cầu. Khi thị trường xuất khẩu của quốc gia giảm mạnh trong năm 2008, các nhà lãnh đạo Việt Nam tìm cách thúc đẩy nhu cầu trong nước cho đến khi doanh nghiệp nước ngoài quay trở lại. Chủ yếu bằng cách hướng tín dụng đến khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhưng lại thiếu sự giám sát. Dẫn đến các đề án đầu tư bất động sản – vốn không liên quan đến ngành nghề chính của các DNNN ra đời. Các ngân hàng mới được DNNN thành lập, huy động tín dụng và cho vay ngược trở lại.

Trong năm 2010, bong bóng tài sản vỡ. Các ngân hàng chìm vào trong các khoản vay không hiệu suất. Năm 2013, NHNN công bố nợ xấu ngân hàng ở mức 4% nhưng gần đây, Moodys (Tổ chức định hạng tín nhiệm toàn cầu) tính toán nợ xấu lên tới 15%.

Hơn nữa, các tập đoàn đóng tàu Vinashin, nơi Hà Nội bơm đến 4 tỷ USD đã bị chìm, tiếp nối là Vinalines. Hai doanh nghiệp nhà nước từng được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “chào hàng” như là một mô hình mới trong hệ thống nền kinh tế của Việt Nam.

Trong khi đó, từ năm 2009, Bắc Kinh quyết đoán hơn trong yêu sách chủ quyền vùng Biển Đông mà nước này từng cho là có từ thời cổ đại. Ngoài khơi bờ biển dài của Việt Nam, tàu Trung Quốc tăng cường sách nhiễu ngư dân Việt Nam và can thiệp các dự án thăm dò dầu và khí đốt vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền – đặc quyền kinh tế.

Internet cho phép lên tiếng

Những sự kiện này trùng hợp với một cuộc cách mạng thông tin. Mặc dù từ lâu, Việt Nam đã tồn tại một lực lượng được gọi là bất đồng chính kiến, nhưng lực lượng này đã không có một phương tiện để tiếp cận người dân cho đến khi internet bùng nổ. [1] Từ 200.000 người dùng vào năm 2000, hiện nay Internet tại Việt Nam tiếp cận 55% người dùng Việt Nam với độ tuổi trên 14.

Nhiều người dân Việt Nam đã tìm thấy một kênh phương tiện để mình truyền tải các quan điểm – mà kênh truyền thông – báo chí chính thống (vốn bị quản lý nghiêm ngặt) đã không thể đáp ứng. Chế độ kiểm duyệt dần xa tầm với, blog – nơi mà các vấn đề nghiêm trọng của quốc gai được đăng tải và nhận được hàng triệu lượt truy cập mỗi ngày. Tài khoản Facebook, với hơn 30 triệu người truy cập thường xuyên, luôn có có các cuộc thảo luận chính trị.

Ví dụ, năm 2008, chính phủ đã cấp giấy phép cho Công ty Nhôm Trung Quốc khai thác mỏ bauxite ở vùng cao nguyên Nam Trung bộ của Việt Nam. Cuộc tranh luận nhanh chóng mở ra, đề cập đến tác động xã hội và môi trường của dự án, và ngay sau đó biến thành cuộc tranh luận công khai chưa từng có, cáo buộc đảng-nhà nước gây hại cho an ninh quốc gia.

Trong khi đó, cuộc khủng hoảng kinh tế của Việt Nam đi vào chiều sâu. Năm 2011 chính quyền đã buộc phải thắt chặt tín dụng. Các nhà kinh tế đã kết luận rằng sự năng động của chính sách đổi mới đã cạn. Sự bất mãn ngày càng nhiều với sự phá sản của hàng trăm ngàn doanh nghiệp nhỏ và các nhà đầu tư, tham nhũng vặt, sự bạo hành của công an, sự tiếp cận trong chăm sóc sức khỏe và giáo dục, lịch cắt điện và quan điểm “ôn hòa quá sức” của chính phủ đối với các hành động khiêu khích của Trung Quốc ở bên ngoài.

Bế tắc chính sách

ĐCSVN rõ ràng gặp quá nhiều khó khăn. Một số các quan chức chuyển mục tiêu chính của mình sang lợi nhuận. Theo nhà phân tích Alexander Vuving, nhiều cán bộ cấp cao của Đảng không còn bảo thủ nhưng cũng không quá đổi mới, chỉ đơn giản là những kẻ cơ hội đã tìm thấy một thể chế rất thoải mái [2] Vuving giải thích nó theo cách này: Chủ nghĩa tư bản có nhiều cơ hội để tạo ra lợi nhuận, trong khi chủ nghĩa cộng sản cung cấp một độc quyền quyền lực. Một sự hỗn hợp của cả hai tạo điều kiện cho việc sử dụng tiền để mua quyền lực và sử dụng quyền lực để kiếm tiền.

Có lẽ vì quá nhiều nhà lãnh đạo đã ‘đầu tư’ trong thể chế, nên ĐCSVN đã từ lâu đã không thể giải quyết được vấn đề này. Nó đứng bên cạnh việc lập trường của Việt Nam đối với Trung Quốc, và các nước phương Tây.

Chưa kể, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế – nhà nước phải là một người tham gia, thông qua kiểm soát nhiều doanh nghiệp lớn, hay cần tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước và tập trung vào việc cung cấp các điều kiện cho phép doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh? Ngoài ra, cuộc tranh luận trong nội bộ đảng về quản lý thông tin (trong khi, thập kỷ vừa qua, khả năng kiểm soát của nhà nước đối với vấn đề này dần tụt dốc).

Tại đại hội đảng vào năm 2001, 2006 và 2011, mặc dù đã có nhiều cuộc tranh cãi về nạn tham nhũng, quản lý yếu kém và sự hợp pháp của Đảng, thì sự đồng thuận về quyết định cải cách đã vượt quá tầm tay. Thời gian, vị trí đã được phân bổ chủ yếu nhằm duy trì sự cân bằng giữa các phe phái và khu vực. Cán bộ cũ đã về hưu và những người trẻ lên thay, nhưng chính sách vẫn bế tắc.

Cơ hội hay xuất sắc?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – người đã gây báo động các đồng nghiệp trong Bộ Chính trị của mình bằng cách hăng hái xây dựng một mạng lưới chính trị cá nhân với những người ủng hộ. Đầu tiên là một phó thủ tướng và sau đó là người đứng đầu chính phủ, ông đã thu thập khá nhiều sự bảo trợ. Ông xây dựng một hình ảnh trí thức gắn với vấn đề thế giới và xu hướng cải cách. Trong một nhóm cầm quyền vốn được đánh giá cao về trách nhiệm tập thể, tham vọng của thủ tướng dường như đứng bên ngoài.

Giữa năm 2012, trong một hoàn cảnh khá hiếm hoi, 14 thành viên Bộ Chính trị đã bỏ phiếu để “lật đổ” Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong tình hình như vậy, phản ứng thông thường là rút ra lặng lẽ. Nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từ chối. Ông với các khoản nợ chính trị đã “đảo ngược tình thế” gắn với quyết định của Bộ Chính trị tại một cuộc họp Ủy ban Trung ương Đảng hai tháng sau đó. Kể từ đó, ông tiếp tục điều hành bộ máy Chính phủ.

Ông cũng tham gia một diễn đàn với chủ đề cải cách thể chế, và phát triển khu vực tư nhân trong nước. Ông cùng nội các của mình và các nhà quản lý tài năng lắng nghe chăm chú những lời khuyên từ một “thế hệ sáng giá” – các nhà kinh tế được phương Tây đào tạo.

Những nhà kinh tế cho rằng, trừ khi cải cách để trở lại tốc độ tăng trưởng hàng năm với 7 – 8%, Việt Nam sẽ khó đứng vào hàng ngũ của các nền kinh tế tiên tiến. Đó là bởi vì tỷ lệ sinh đã giảm mạnh; lực lượng lao động trẻ – “dân số vàng” – sẽ bắt đầu co lại vào năm 2025. Chính phủ dường như đã nghe thông điệp đó. Và đã nhanh chóng điều chỉnh các quy định có lợi cho đầu tư nước ngoài. Vốn và công nghệ bắt đầu quay trở lại. Việt Nam là trong những nước đầu tiên tham gia Hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương.

Và nền kinh tế vẫn đang chờ một hành động kiên quyết để thu nhỏ khu vực kinh tế nhà nước lại và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước.

Trục của Việt Nam

Với chính sách đối ngoại, Thủ tướng Dũng xoay quanh vấn đề “xây dựng lòng tin chiến lược.” Bởi theo đuổi bá quyền ở Biển Đông, Trung Quốc đã đánh mất nó với Việt Nam; Mỹ đang trên đường tiệm cận với Việt Nam – và đó là một sự thay đổi mang tính thời đại của các nhà cải cách Việt Nam.

Khi Bắc Kinh gửi một giàn khoan dầu biển vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trong tháng 6 năm 2014. Hầu hết các thành viên của Bộ Chính trị đã trả lời cùng với Thủ tướng Chính phủ Dũng. Việt Nam đã đặt hàng tàu bảo vệ bờ biển và tàu đánh cá để chống sự quấy rối của đội tàu ca Trung Quốc. Lên án Trung Quốc ở nước ngoài và khuấy động lòng tự tôn ở trong nước.

Và khi Bắc Kinh kéo trở lại giàn khoan dầu, phe bảo thủ Đảng đã thừa nhận rằng một tư thế nghiêng về phía Bắc Kinh đã không còn. Theo đó, Việt Nam sẽ cân bằng lại quan hệ với các cường quốc. Trong những tháng sau đó, một số thành viên cấp cao (vốn được cho là gần gũi với Trung Quốc) đã đến thăm Washington. Những cuộc thăm viếng đã cẩn thận sắp xếp bởi các nhà ngoại giao Việt Nam và Hoa Kỳ, và cho thấy tín hiệu tốt. Một năm sau cuộc đối đầu với Trung Quốc, lãnh đạo đảng hàng đầu của Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã gặp Tổng thống Obama tại phòng Bầu Dục.

“Đó thực sự là một cuộc họp lịch sử”, Trọng đánh giá sau đó. “Nhà Trắng thừa nhận cấu trúc chính trị của Việt Nam và lãnh đạo của Đảng.”

Một nhà cải cách hay không một chương trình cải cách

Tại Quốc hội vào đầu năm tới, ĐCSVN sẽ quyết định ai sẽ lãnh đạo đảng cho đến năm 2020. Phấn chấn với một chuỗi những thành công chính trị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đặt cược vào chức vị Tổng bí thư Đảng, vị trí cài đặt nhân vật thân tín làm Thủ tướng và các vị trí chủ chốt khác. Thủ tướng Dũng dường như đã sẵn sàng để xuất hiện và kiểm soát đảng – nhà nước Việt Nam sau Đại hội, hơn bất cứ ai kể từ Tổng Bí thư Lê Duẩn.

VNTB – Xa hơn mốc 2016: cơ hội cuối cùng cho Đảng cộng sản Việt Nam?

Tuy nhiên, triển vọng cam kết cải cách của một người đứng đầu Đảng (nếu có) có thể kích hoạt một phản ứng “của bất cứ ai – ngoại trừ Dũng”. Nhà quan sát kỳ cựu Việt Nam – Carl Thayer nghi ngờ đó là lý do tại sao các cuộc họp Ủy ban Trung ương để chuẩn bị Đại hội lần thứ 12 dường như rất ít có nhiều chuyển biến. Đối với nhiều người trong Đảng, đặc biệt là cấp tỉnh hoặc thành phố và trong từng doanh nghiệp nhà nước, hiện trạng của Việt Nam cơ bản là rất thoải mái. Đối với một số ít, tư tưởng vẫn còn quan trọng; họ nhắc lại lời hứa của Thủ tướng Dũng về sự cải cách như là một tín hiệu thử nghiệm đa nguyên đầy nguy hiểm đã được mã hóa.

Ngoài Đảng, tiếng nói phản đối vẫn còn nhưng tương đối nhỏ, người Việt Nam bây giờ không ở trong một tâm thế cách mạng. Xuất khẩu đang bùng nổ. Thu nhập bình quân hàng năm lên mức 2.000 USD, gấp đôi so với năm 2007. Nhìn chung, những người ngoài Đảng chỉ muốn Đảng sẽ sửa chữa lỗi lầm của mình. Họ sợ sự hỗn loạn. Họ có thể sẽ ủng hộ mạnh mẽ Thủ tướng Dũng theo đuổi một chương trình cải cách, đặc biệt là tầng lớp doanh nhân và chuyên gia của đất nước.

Để thành công như là một nhà cải cách, Thủ tướng Dũng phải thuyết phục đảng viên của mình vứt bỏ “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” và tái tập trung vào quản lý nền kinh tế. Chính sách nên hướng đến việc tạo điều kiện cho các nhà sản xuất Việt Nam tiếp cận tín dụng và công nghệ cần thiết để tham gia chuỗi giá trị xuất khẩu. Nông dân sẽ sở hữu ruộng đất. Doanh nghiệp nhà nước nếu không cạnh tranh được sẽ được phép phá sản. Tư tưởng lùi bước, nhưng logic kinh tế sẽ thu hút nhiều sự ủng hộ. Suy cho cùng, logic chính trị chính là: hành động dứt khoát sẽ đảm bảo sự độ tín nhiệm lãnh đạo của Đảng trong những năm tới.

(*) David E. Brown, một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, phục vụ trong Đại sứ quán Mỹ Sài Gòn 1965-1969.

[1] http://www.phamdoantrang.com/2013/12/chronology-of-blogging-movement-in.html

[2] http://www.viet-studies.info/kinhte/VuVing_FourPlayers_SEAAffairs.pdf

Advertisements