Bí mật thảm khốc về số phận của nữ tù binh Việt trong cuộc chiến Trung-Việt 1979-1989

Sống News

Huỳnh Tâm

15-2-2014

Ảnh: Huỳnh Tâm/ internet

Hãy chắc chắn là quý vị đủ sức chịu đựng để đọc bài viết này, vì những hình ảnh tài liệu trong bài này vô cùng tàn khốc. Nhưng đây là dẫn chứng duy nhất để tố cáo những hành vi man rợ của quân đội Trung Quốc đối với các nữ tù binh Việt Nam trong cuộc chiến biên giới Việt Trung kéo dài từ năm 1979 cho đến năm 1989. Đảng CSVN đã giấu nhẹm tất cả mọi tin tức liên quan đến cuộc chiến này. Tác giả Huỳnh Tâm viết bài cho biết ông viết thay cho những nén hương gởi đến vong hồn những nữ tù bình Việt Nam đã hy sinh và chết một cách ô nhục cho Tổ Quốc Việt Nam mà không được một ai ghi nhớ. Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có cảnh tượng thảm thương như thế này.

oOo

“…Nhân dân Việt Nam hầu như không biết gì về chiến tranh biên giới 1979 và trận chiến khốc liệt nhất 1984-1989. Họ đang tìm cách xóa nhòa những ký ức về những cuộc chiến này. Đảng CS Việt Nam ngày nay đã hiện nguyên hình một tên đại bịp, dối trá đứng trên lịch sử, phá tan hoang dân tộc Việt Nam…”

Tội ác chiến tranh, lửa bốc khói ô nhục

Đêm 4/12/1987, pháo binh Việt Nam tăng cường lửa cối pháo trong vòng 43 phút, rót xuống đầu binh lính Trung Quốc. Toàn vùng biên giới Lão Sơn tràn ngập một màu lửa đỏ cháy ngùn ngụt, khốc liệt. Cùng vào thời điểm này, pháo binh Việt Nam bất ngờ đánh trúng vào kho đạn của núi 277, thuộc Sư đoàn 199 Trung Quốc, kéo theo hàng loạt đạn pháo liên tục nổ ầm ì, trên mức độ bình thường; đạn cày tung toé đất đá, bụi, khói lửa bay mịt mù. Đứng giữa chiến trường ngơ ngác trước cảnh điêu tàn chưa bao giờ thấy, binh lính Trung Quốc chui rúc xuống giao thông hào sâu trong lòng đất, chỉ để lại trên mặt đất những tên lính thủ chiến. Bọn họ đã trở thành một loài côn trùng lớn bé lúc nhúc đi tìm chỗ dung thân, nhưng tất cả hầu như bị hủy diệt vì lửa đạn.

Đạn pháo rung chuyển mạnh, từng phút một, đã đánh thức cả vùng biên giới núi Lão Sơn. Quân đội Trung Quốc từ lâu vẫn xay mê với chiến thuật biển người. Lần này chiến binh Việt Nam dùng pháo binh mạnh, đàn áp chiến lũy Trung Quốc và cho họ một bài học chiến sự. Quả nhiên những tên bành trướng Trung Quốc đã tỉnh ngộ không còn xem thường hỏa lực tác chiến của chiến binh Việt Nam.

Hiện thời Sư đoàn 199 và 67 vẫn ra sức cố thủ để còn đất dung thân, tất yếu phải thay đổi chiến thuật, không tin tưởng nhiều vào mật danh do những tình báo Hoa Nam cung cấp và những tên phản dân tộc Việt Nam đang bị bộ máy chiến tranh Trung Quốc nghi ngờ. Có thể uy tín của họ đang xuống thấp, bởi trận mưa cối pháo vừa rồi, do pháo binh Việt Nam tự phát, cho nên tình báo Hoa Nam không có sự kiện để đưa vào kế hoạch chiến trường Lão Sơn.

Cùng ngày, quân đội Việt Nam ngừng bắn pháo trước một giờ, tạo cơ hội thuận lợi cho những đơn vị quân đội Trung Quốc di chuyển đến vị trí phòng thủ mới, và bệnh xá Tập đoàn 25 đồng di chuyển thương binh đến vị trí an toàn. Những quân đoàn Trung Quốc, hối hả tổ chức lại kế hoạch phòng ngự, lệnh tiến hành cố thủ 45 đỉnh núi thuộc vùng núi Lão Sơn, bảo đảm kiên cố chiến lược, mặt khác kết nối toàn vùng, bao vây quân địch (Viêt Nam), cho đến chiến thắng cuối cùng.

Trong cảnh hỗn mang rối loạn hàng ngũ tại bệnh xá Tập đoàn 25, những thi thể của những nữ tù binh Việt Nam bất ngờ bị phơi bày. Trên lý thuyết, những nữ tù binh đến đây điều trị thương tích nhưng không may cho họ vào thời điểm này, họ lâm vào cảnh ngộ vô cùng bi đát và thảm khốc. Nữ tù binh Việt Nam không chết vì súng đạn, mà chết vì bị hãm hiếp. Những xác chết này nằm lăn lóc, thân thể trần trụi, chết trong căm hờn tủi nhục, đôi môi mím chặt đau đớn, phá tan tất cả thân xác của phụ nữ Việt Nam. Không ai có thể ngờ ở chốn chiến trường lại có cảnh tượng thô bạo như vậy, khó ai tin được người lính Trung Quốc dã man đến thế!

Sự thật trần trụi kinh hoàng

Một số Hải Âu, và NF3.86 đồng chứng kiến bi kịch khiếp đảm, rùng rợn cả người, cho đến mấy mươi năm sau hình ảnh thi thể của những nữ tù binh Việt Nam vẫn còn ám ảnh tâm trí họ. Họ không thể nào quên:

‒ Ngày 4/12/1987, D514, thuộc F199, có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ bệnh xá Tập đoàn 25 Trung Quốc. Theo kế hoạch của bộ chỉ huy chiến trường. Di chuyển toàn bộ thương binh Trung Quốc ra khỏi vùng nóng, còn thương binh Việt Nam sẽ được di chuyển cuối cùng. Thực tế trong cuộc tháo chạy, họ đối xử phân biệt thương binh, đưa đến tình trạng mất kiểm soát căn cứ. Trong cơn binh biến hỗn tạp, binh lính D514 nổi cơn thèm khác dục tính, thi nhau hãm hiếp nữ tù binh cho đến chết và sau đó thủ tiêu thi thể. Họ đã chết trong đau đớn và tủi nhục mà không một ai biết đến, thương tổn lớn cho nữ tù binh Việt Nam. Khủng khiếp hơn nữa, nữ tù binh Việt Nam đã bị bọn giặc dã man Trung Quốc cắt lấy bộ ngực, bộ ngũ tạn và đôi bắp đùi chân tay để ăn thịt.

h1Ảnh: Huỳnh Tâm/ internet

Bi kịch dã man này đã diễn ra từ lúc Đặng Tiểu Bình mở cuộc chiến xâm lấn Viết Nam vào ngày 17/2/1979 và kéo dài cho đến cho năm 1989. Không biết đã có bao nhiêu nữ tù binh Việt Nam rơi vào hoàn cảnh bị hãm hiếp và mất tích. Điều này hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc đã bí mật ém nhẹm, không hề một có tư liệu hay hồi ký nào xuất hiện ghi lại cuộc tàn sát những nữ thương binh này tại biên giới Lão Sơn, Lào Cai, Việt Nam. Người ta chỉ được biết qua truyền khẩu.

Những hình ảnh do chính quân đội Trung Quốc chụp lại cho thấy họ ung dung hành động theo bản năng thú tính tàn ác. Hình ảnh những nữ tù binh Việt Nam đã bị hãm hiếp tập thể cho đến kiệt sức, thân thể trần trụi, cho thấy sự ô nhục thảm khốc, xúc phạm đến nhân phẩm của người nữ tù binh Việt Nam. Những người lính Trung Quốc tàn nhẫn quá đáng, sau khi thỏa mãn dục vọng, họ cắt luôn những bộ phận nhạy cảm nhất trên người phụ nữ, khi chết thân thể nữ tù binh Việt Nam không còn nguyên vẹn.

Không có nỗi nhục nào hơn nỗi nhục trên đất Việt quê hương của mình, chính mình bị làm tù binh chiến tranh dưới tay quân đội Trung Quốc. Họ xem nữ tù binh Việt Nam như một món vật mua vui sinh lý. Những ca hãm hiếp, chôn vùi thi thể nữ tù binh không chỉ xảy ra một lần. Những cấp chỉ huy Trung Quốc vờ không biết, và ém nhẹm nội vụ nữ tù binh Việt Nam bị chôn vùi dưới lòng đất lạnh, mộ phần vĩnh viễn vô danh. Hãi hùng hơn nữa, đảng CS Việt Nam không hề lên tiếng và bày tỏ tri ân và thương tiếc người lính xấu số đã hy sinh mạng sống trên chiến trường! Quả thật vô cùng bất hạnh khi con người sinh rồi mất tích không ai biết xác chôn nơi nào để người thân cầu siêu.

Trên chiến trường, cả hai bên Việt Nam-Trung Quốc đều có tù binh. Phía Việt Nam luôn luôn ưu đãi các tù binh chiến tranh Trung Quốc. Trái lại tù binh Việt Nam, nhất là nữ tù binh, đã bị Trung Quốc đối xử tàn nhẫn, xem đây một thứ rác phế thải không tái chế. Trung Quốc chưa bao giờ tôn trọng theo lời cam kết “không hành động tàn bạo hay gây sốc đối với tù binh nữ giới”. Những ai có đến hiện trường tìm hiểu và chứng thực quân đội Trung Quốc vô nhân đạo, đối xử với nữ tù binh rất tàn ác. Cộng sản Trung Quốc dàn cảnh chụp hình những nữ tu bình Việt Nam ở trong trại giam được đối xử tử tế, nhưng người biết chuyện thấy rõ đây chỉ là trò trình diễn nhân đạo có tính toán chính trị.

Trên hành trình di chuyển đến điểm núi 255, trong tôi có lắm suy nghĩ cuồng kháng, muốn hét lên một tiếng thật lớn để phá tan những uất hận cho những oan hồn của những nữ tù binh bị hãm hiếp đến chết. Tiếng kêu uất nghẹn, không thành lời. Tôi vẫn chưa hình dung được một phóng sự nào nói về nữ tù binh Việt Nam, mà tôi đã gặp trên đường đi. Hình ảnh những tử thi của nữ tù binh vẫn còn dán cứng vào mắt, trong tim, càng suy nghĩ nhiều càng rối rắm không đầu đuôi sự kiện, cứ thế theo bước chân hối hả. Đi không được bao lâu lại thấy trước giao thông hào một thi thể trần trụi, nằm dài trên mặt đất, không có một thứ gì trên người, xem ra những thi thể vô danh tiếp tục xuất hiện.

h1Ảnh: Huỳnh Tâm/ internet

Hải Âu DF-1, F67, tò mò, muốn biết vì sao có thi thể người phụ nữa ở giữa núi rùng đang có chiến tranh, khi dỡ tấm nilon ra, thấy một phần cây tròn đâm sâu vào trong cửa mình người phụ nữ, máu chảy ra nhiều đã đông đặc tự bao giờ, mồm còn hả to, có lẽ van xin sự sống, hai cánh tay sải rộng cho thấy đau đớn tận cùng vào lúc chết buông xuôi, xác đã lạnh, với những vết bầm tím vắt ngang dọc cả thân người, nơi bắp đùi có vết thương, những thanh nẹp băng bó vải thưa, gấp chữ V còn mới.

Hải Âu DF-1, F67 khẳng định:

– Chính thi thể nữ tù binh Việt Nam đang điều trị tại bệnh xá của Tập đoàn 25.
Riêng tôi đoan quyết:

– Nữ tù binh này người Việt Nam, vì trên nét mặt rất Việt.

Tôi điềm tĩnh lại, muốn làm một cử chỉ nhỏ, rồi tự hỏi:

– Có nên thực hiện một việc nhẹ mà lại vô cùng nặng “tình lý” không, và cũng có nhẽ hổ thẹn với đời chăng?

Tôi lấy quyết định vì đồng tộc Việt, tự khom lưng xuống, đôi tay rút thanh cây gỗ tròn từ trong cửa mình người phụ nữ, máu ứ động trong người phun ra thành vòi đã ngã màu đỏ bầm. Mọi người trố mắt nhì nhau, ngạc nhiên thấy thanh cây gỗ tròn, bán kính 0,5 mm, đầu hơi nhọn, dài 2 m, đâm sâu vào người gần 4 mm, cả người tôi toát mồ hôi lạnh.

Nhân tiện có sẻng cá nhân, chung nhau đào huyệt, 15 phút sau hoàn tất, bắt tay vào tẩm liệm, tiễn người nữ tù binh xấu số xuống lòng đất quê hương. Trên phần mộ có cắm sâu cột gỗ 1,5 mét. [1]

Hải Âu DF-1, D350, cho biết:

– Trước đây vài giờ nhận được tin, bệnh xá Tập đoàn 25, chuyển thương binh đến nơi an toàn, không ngờ lại có sự kiện nữ tù binh Việt Nam bị hãm hiếp đến thế này!

Tại sao Đảng CSVN lại che giấu những tội ác của Trung Cộng?

Tại mặt trận biên giới Tây Bắc Việt Nam từ 1979-1987, đảng CS Việt Nam biết rõ những sự kiện này, nhưng đã im lặng, giấu nhẹm không hề công bố về số phận của những nữ tù binh bị hãm hiếp, quằn quại trên chiến trường, đối mặt với những tên lính vô cảm của Trung Quốc.

Ngoài ra, quân đội Trung Quốc đã từng vấy máu tanh, tấn công bệnh xá của Việt Nam, cướp đi những nữ thương binh và cả nữ y tá, chỉ để làm một việc bất nhân hãm hiếp, rồi sau đó thủ tiêu. Quân đội Trung Quốc không thua gì thảo khấu, cực kỳ tàn nhẫn.
Chúng tôi tiếp tục lên đường, từ xa, ở phía trước lưng núi 221, đã có tiếng cầu cứu quen thuộc “Cứu tôi, cứu tôi”, bằng ngôn ngữ Việt, dù biết kêu vô vọng bởi không còn ngôn ngữ nào khác, âm ngữ của mẹ Việt bao dung, làm động cơ thôi thúc thành lời, đang vang động trời đất bao la. Tiếng kêu vào không trung tuyệt vọng, hay tiếng kêu cứu trong hy vọng mong manh.

Phát hiện trong tiếng “Cứu tôi, cứu tôi” có âm lượng thân thương, từ xa đã rót vào tai, phản ứng tự nhiên tay làm hiệu nhờ những Hải Âu tiến đến điểm có tiếng âm thanh người Việt Nam.

h1Ảnh: Huỳnh Tâm/ internet

Không sai người nữ chiến binh rơi vào tay lực lượng quỉ râu xanh Trung Quốc, lúc chạm mặt, bọn chúng cả thảy nửa Tiểu đội lật bật mặc quần, và chạy xuống núi, chỉ còn lại một tên Hán vẫn lõa lồ chưa kịp mặt quần, đang gọi điện báo, riêng nữ tù binh Việt Nam thân thể xòa dài dưới đất, thân lết bết khó nhọc, tay túm lấy chiếc váy để che hạ thể, do bệnh xá cấp, ể oải ngồi dậy với tư thế sợ hãi.
Tôi hỏi bằng ngôn ngữ mẹ đẻ thân yêu:

– Em, thể nào, cho anh biết, vì cớ nào lại có mặt ở đây?

Trên khuôn mặt của cô ta, có cả hai nét mặt, vừa mừng, vừa sợ, cô nói:

– Em muốn biết quý anh là ai ?

– Em đừng sợ, ở đây không tiện tỏ hết lời. Em tự nhiên theo các anh thì may ra sống.

Tôi ra hiệu, nhờ Hải Âu trừng trị tên Hán, không ngờ Hải Âu rút súng ra chuẩn bị bắn, tôi ngăn cản lại kéo Hải Âu ra xa nói nhỏ:

– Anh phải lấy thẻ số quân, tên tuổi, đơn vị, rồi tặng cho y vài cú đạp mạnh, sau đó cài một quả lựu đạn cho nổ máy điện đàm, tiếp theo bắng dưới chân để y chạy thoát, cho y sống sau này sẽ làm nhân chứng tội ác chiến tranh, những tên khả ố này phải treo tội ác lơ lửng trên đầu, không thể tha thức để chúng nó ung dung sống trong trạng thái bình an ngoài vòng pháp luật. Hải Âu có đồng ý phương thức giải quyết này không?

– Vâng, thưa anh, thượng sách, tôi thực hiện theo ý của anh.

Giải quyết nhanh tay, tên Hán chạy mất dạng, chúng tôi lên đường, nói:

– Mời cô em, cùng đi với chúng tôi.

– Thưa, em không thể đi được vì bên hông trái trúng thương nặng, và bị 6 thằng lính Trung Quốc hãm hiếp hơn 3 giờ liền, em không còn sức để đứng lên, các anh cứ đi, em chết ở đây cũng toại nguyện lắm rồi, và tạc dạ nhớ ơn của quý anh cứu sống, em xin cúi đầu bái tạ ân nhân cứu mạnh, đa tạ quý anh.

Cô ấy vái lạy như tế sao, như người lên “đồng cô” tại Điện Hòn Chén, đối diện lăng Vua Minh Mang, Huế. Vội vã đỡ cô ấy, nói:

– Chúng tôi xin cô đừng xá nữa.

Cùng lúc tôi nhờ những Hải Âu thi nhau cõng cô ấy, với sức nặng 50 ký ngoài, không là bao, tuy nhiên đi đường xa có vấn đề, trên đường đi nhân tiện hỏi về thân thế và sự nghiệp của cô ấy:

– Em có thể cho biết quý danh để tiện mồm được không?

– Dạ, em tên Trần Thị M…..thuộc đơn vị E81, F365, QK2. Quân hàm Thiếu úy, bị thương đêm 28/11/1987, sáng 29/11/1987, em bị lính Trung Quốc bắt làm tù binh. Quê quán thị xã Lào Cai, địa chỉ số: 74, đường……….

Đã đi được 1 giờ đường, tôi nhờ Hải Âu DF-1, F138 tiếp sức cõng cô M…..1 giờ nữa đến căn cứ 255 của Sư đoàn 138 thuộc Quân đoàn 46 Trung Quốc. Thấy cô M…..ngủ say, vô tư trên lưng của Hải Âu, có dáng mệt mỏi. Tôi đề nghị Hải Âu:

– Nhờ anh Hải Âu DF-1, F138 đưa cô này đến bệnh xá Quân đoàn 46 để điều trị, khai báo theo thủ tục tù binh, tùy anh ứng biến.

– Vâng, tôi hiểu phải làm thủ tục như thế nào rồi.

– Cũng nhờ anh thường xuyên đến bệnh xá thăm cô ấy, sau đó anh liên lạc với bệnh xá hỏi họ sẽ đưa cô này đến trại tù binh nào, nhớ anh cho tôi biết địa chỉ để đến thăm cô ấy nhé.

– Vâng, đúng thế phải làm thủ tục nhập trại tù binh, theo qui chế chiến tranh.

Cô M….vừa tĩnh dậy hỏi:

– Thưa, quý anh đã đến nơi chưa?

– Chỉ còn 5 phút nữa là chúng ta chia tay, anh Hải Âu DF-1, F138 đưa cô đến bệnh xá Quân đoàn 46, còn chúng tôi tiếp tục hành trình, sau khi cô ổn định thủ thục tù binh, tôi đến trại thăm cô và những anh em tù binh đồng hương.

Đến đây chúng tôi và cô M….. tạm biệt đi hai hướng, cô M….hỏi:

– Thế thì anh tên gì để báo ân?

– Không tiện sẽ có ngày gặp lại, chào tạm biệt cô M…..

Trên đường đi tôi suy nghĩ nhiều về thân phận làm người phụ nữ Việt Nam quá gian nan, phải tiếp nhận những ngỡ ngàn trong chiến tranh phức tạp. Nhờ tiếp cận mới nhận diện bộ mặt thật của đảng CS Việt Nam và Trung Quốc, nay đã hiện rõ về họ. Chính họ am tường những tội phạm chiến tranh, biết những trường hợp hãm hiếp nữ tù binh, thế nhưng vẫn làm ngơ không can thiệp, trái lại còn khuyết khích đối xử tồi bại hơn, xâm phạm tiết hạnh của nữ tù binh, hai đảng CS không hề có cảm giác xấu hổ đối với hai dân tộc, cho đến nay hồ sơ hãm hiếp tù binh vẫn bí mật khép kín.

Rõ ràng đảng CS Việt Nam đã đồng lõa trong nội vụ này, và không lên tiếng phản kháng Trung Quốc về sự kiện nữ tù binh Việt Nam bị hãm hiếp. Đảng CS Việt Nam đã để lộ “lề thói” chư hầu, coi như đã hết thuốc chữa trị. Họ sống ung dung, vô trách nhiệm trước dân tộc Việt Nam. Hy vọng một ngày, sự kiện về nữ tù binh Việt Nam được bạch hoá, về mọi hành vi dã man, kinh tởm sẽ có lúc hiển thị, thay lương tâm nhân loại, công bố cáo bạch.

Người nữ tù binh Việt Nam còn phải chịu đựng quá nhiều nghịch cảnh bi thương khác, như trường hợp nữ tù binh bị hãm hiếp mang thai, giam hãm nơi bệnh xá bí mật, họ bị đem ra trừng phạt bằng phẫu thuật cắt bỏ tứ chi, chôn sống và ức bách. Có những trường hợp bị tiêm thuốc tuyệt tiêu khả năng sinh đẻ! Tại chiến trường Lão Sơn, CS Trung Quốc đã có sẵn kế hoạch bẩn thỉu vừa hãm hiếp tập thể vừa trừng phạt. Có một số nữ tù binh Việt Nam sống không bằng chết, đành quyên sinh để đổi lấy trinh tiết.

Cảnh tượng hãm hiếp không đơn lẻ nhưng được thi hành rộng rãi tại chiến trường Lão Sơn. Trong cuộc chiến biên giới Việt –Trung, cả hai đảng đều có cùng một mẫu số hèn hạ, tạo ra quá nhiều bạo lực, và phủ nhận hành vi tội ác trước hai dân tộc Việt-Hán.

Vẫn chưa hết, nữ từ binh Việt Nam gặp phải trăm ngàn hung thủ gian ác Hán bao quanh, chúng muốn sự thống khổ của người phụ nữ Việt Nam kéo dài lê thê suốt cuộc đời bằng những sĩ nhục về tinh thần lẫn thể xác. CS Trung Quốc không những làm ngơ mà lại khuyến khích cho phép binh sĩ chà đạp thân thể của người phụ nữ Việt Nam. Họ Đặng là thủ phạm nhưng không ai có thể quy trách nhiệm lên nhà tổ chức chiến tranh họ Đặng này. Đúng là một bè lũ ký sinh hoại loạn. Họ dùng 107 nữ tù binh Việt Nam làm trò giải trí vài lần hãm hiếp tập thể để phục vụ chiến trường.

h1Ảnh: Huỳnh Tâm/ internet

Nhân dân Việt Nam hầu như không biết gì về chiến tranh biên giới 1979 và trận chiến khốc liệt nhất 1984-1989. Đảng CS Việt Nam thành công tước đoạt quốc gia Việt Nam. Việc nước đại sự biến thành của riêng họ không một người dân nào được đụng vào! Họ đang tìm cách xóa nhòa những ký ức về những cuộc chiến này. CS Việt Nam ngày nay đã hiện nguyên hình một tên đại bịp, dối trá đứng trên lịch sử, phá tan hoang dân tộc Việt Nam.

Từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 cho đến nay đã trải qua 34 năm, đảng CS Việt Nam vẫn bí mật ém nhẹm không công bố thống kê, tổn thất chiến tranh, tài sản nhân dân, tài sản quốc gia, biên giới lãnh thổ mất bao nhiêu cây số, quân số tham chiến, tử vong, thương binh, tù binh nam nữ được trao trả, mất tích, địch đối xử thế nào với tù binh Việt Nam. Sau cuộc chiến đảng CS Việt Nam chưa hề có ưu đãi xứng đáng nào đối với thương binh, gia đình tử sĩ, v.v…

Đảng CS Việt Nam có thể bóp méo suy nghĩ người dân Việt Nam được một ngày, chứ không thể thay đối vĩnh viễn, bởi những hành động dối trá và lừa bịp không thể tồn tại lâu dài. Nếu lịch sử là một chuỗi dài những kịch bản trên sân khấu, đảng CS Việt Nam chỉ là một kịch bản tồi dở, màn hạ xuống là hết. Nhân dân Việt Nam không phải là con rối để mọi khuynh hướng chính trị đùa cợt.

Nước Việt Nam tồn tại cho đến ngày nay là nhờ ở một hằng số bất biến: chống xâm lược phương Bắc. Dân tộc Việt Nam có phương thức dựng nước bẳng “tình nghĩa đồng bào” sẽ đối phó quyết liệt như lịch sử dân tộc Việt Nam đã từng bao lần thể hiện. Gần đây Trung Quốc đã xua quân mở những cuộc chiến tranh cướp biên giới đất liền và biển đảo của Việt Nam vào những năm 1956, 1972, 1974, 1979, 1984 và 1989, đó là chiến tranh bi thảm đến từ phương Bắc, khơi lại lên vết thương lịch sử dân tộc Việt Nam khó thể quên được.

Dân tộc Việt Nam không thể quên những lời truyền dạy năm 1978 của Đặng Tiểu Bình: “Ta muốn chiến thắng Việt Nam hãy thực hiện giết sạch, đốt sạch, hãm hiếp sạch. v.v…”

Lời tuyên bố phi nhân của họ Đặng, chống nhân loại, chỉ thị cho quân đội Trung Quốc nổi sóng gió máu tanh, hằng ngàn người Việt vô tội, dân lành bị hành hạ tại các tỉnh biên giới, như thị trấn Đồng Chúc, Hưng Đạo, Thanh Thủy, Vị Xuyên.

Những tỉnh Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, người chết trôi sông, thi thể mất đầu, và thê thảm hơn nữa thân thể phụ nữ loã lồ, cây thọc vào cửa mình, trẻ em vô tội xác lìa hai nơi, chưa kể về những cảnh chết của người du kích địa phương v.v…

Trung Quốc khuyến mại hận thù trên tầm quyết sách. Khi có điều kiện, binh lính Hán triều không cần suy nghỉ, sẵn sàng vấy máu trên mười đầu ngón tay. Tính khoan dung, hiền hòa nhường cho chỗ thú tính man rợ, tàn ác. CS Trung Quốc chưa bao giờ biết tôn trọng nhân phẩm con người, chỉ biết giết, giết và CS Việt Nam, đệ tử thân tín của đàn anh phương Bắc cũng dùng quỉ-thuật giết người đôi khi còn tàn bạo hơn cả CS Trung Quốc.

Giết người cũng cần có đồng minh, cho nên CS Việt Nam và CS Trung Quốc phải kết bè bọn, cao giọng tung hô phương châm 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai”, và tinh thần 4 tốt, “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Thực chất, Trung Quốc đã cài lưới điện vào hai cụm từ trên, đều nằm trong chiến lược đô hộ Việt Nam lâu dài.

Không, không hề có tình hữu nghị nào cả

Nhân dân Việt Nam không thể tiếp nhận người bạn xấu phương Bắc bằng ngôn ngữ anh em, cần xét lại quan hệ với Trung Quốc, và đặt các vấn đề hậu chiến tranh từ năm 1956 cho đến năm 1989, từ biên giới đất liền cho đến biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Từ khi Trung Quốc phát động chiến tranh, ngày 17 tháng 2 năm 1979 đến năm 1989, binh sĩ Trung Quốc đã hãm hiếp không biết bao nhiêu nữ tù binh Việt Nam, để lại những vết thương không tẩy xóa được trong tâm não của nữ tù binh đáng thương. Họ mang trong lòng mặc cảm tủi nhục và tuyệt vọng. Họ đã mất hết niềm tin vào tình người, cuộc đời trở nên vô nghĩa, rơi vào tình cảnh trầm cảm khôn nguôi, thân tâm luôn cảm thấy đau đớn. Họ không được bảo vệ theo đúng qui ước chiến tranh. Cả hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau thi thố xem ai tàn ác hơn ai trong cuộc chiến này, xô đẩy toàn dân đến chỗ diệt vong về tinh thần và vật chất. Họ đã vi phạm trắng trợn qui ước chiến tranh và đã xúc phạm đến nhân phẩm của người thất trận, thay vì tạo ra tâm lý bình yên. Trung Quốc đã vi phạm quy ước quốc tề về tù binh, gây tội ác chiến tranh, nhân loại sẽ không tha thứ. Lưới trời tuy thưa, nhưng khó lọt, những kẻ gây tội ác chiến tranh tại biên giới Việt Trung không thể thoát khỏi phán quyết của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) về tội ác chống nhân loại.

Khác biệt giữa dân chủ pháp trị và độc tài toàn trị

BĐLB VOA

Thiện Ý

14-2-2017

Lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12, 21/1/2016. (Ảnh tư liệu). Nguồn: EPA

Có quan niệm cho rằng chính trị và đạo đức là hai phạm trù khó có sự dung hợp, “chính trị đi vào thì đạo đức đi ra”. Vì nói đến chính trị là người ta hay nghĩ đến các thủ đoạn, âm mưu giành chính quyền để thực hiện những chủ trương chính sách cai trị; người hay đảng cầm quyền có thể vận dụng mọi phương cách dù gian trá, bất chính, vô nhân đạo, phản đạo đức, vô luân để đạt mục tiêu cá nhân hay tập thể.

Quan niệm này có thể phản ánh phần nào sinh hoạt chính trị thực tế, nhưng chỉ đúng về mặt tiêu cực của chính trị, mà không đúng về mặt tích cực và chính mặt tích cực này của chính trị mới phản ánh trung thực nội dung và ý nghĩa cao đẹp của chính trị, phù hợp với nhân đạo, đạo đức xã hội. Theo đó từ ngữ chính trị bao gồm hai cơ cấu tổ chức và nhân sự điều hành chính quyền để thực hiện chủ trương, chính sách cai trị sao cho có hiệu quả thực tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi tầng lớp nhân dân được sống trong độc lập, tự do, công bình, ấm no và hạnh phúc.

Một chính đảng, muốn nắm được chính quyền theo vương đạo, phải chứng tỏ trước nhân dân là một đảng chân chính, vững mạnh về tổ chức, đưa ra được các chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân có tính thuyết phục và khả thi. Người làm chính trị chuyên nghiệp, muốn nắm được chính quyền, trước hết phải chứng tỏ tài năng và đạo đức cá nhân trước chính đảng của mình (nếu muốn nắm chính quyền thông qua chính đảng), hay trước nhân dân (nếu muốn nắm chính quyền với tư cách cá nhân). Như vậy, chính trị và đạo đức dù ở hai phạm trù vẫn có sự dung hợp và là một sự kết hợp phải có theo ý nghĩa chính danh, cao đẹp của từ ngữ chính trị. Chẳng qua, quan niệm cho rằng giữa chính trị và đạo đức không thể dung hợp, xuất phát từ những biểu hiện tiêu cực của các hoạt động chính trị thực tiễn của các chính đảng và các chính trị gia bất chính, bất lương, làm chính trị theo trường phái bá đạo, chỉ vì lợi ích cá nhân hay chính đảng của mình. Thế nhưng, thực tế với các biểu hiện tích cực của các chính đảng và các chính trị gia chân chính, lương hảo, đã xác tín nội dung và ý nghĩa cao đẹp của từ chính trị. Đồng thời cũng chính thực tế thể hiện mặt tiêu cực của các chính đảng và các chính trị gia bất chính, bất lương, đã làm mất niềm tin của nhân dân, khiến chính trị có bản chất trái đạo đức, vô nhân đạo.

Vì vậy, dưới mắt quần chúng và công luận xã hội, đạo đức chính trị đã là chuẩn mực xét định, tín nhiệm, tuyển chọn, đánh giá các chính đảng và các chính trị gia chuyên nghiệp. Trên thực tế, quần chúng và công luận luôn giữ vững các chuẩn mực này và không bỏ qua những vi phạm chuẩn mực đạo đức đối với các chính đảng hay các chính trị gia tham chính.

Trên thực thế cho thấy ý nghĩa tích cực, cao đẹp của chính trị thường thể hiện mức độ cao trong các chế độ chính trị “dân chủ pháp trị”; còn ý nghĩa tiêu cực xấu xa của chính trị hầu như chỉ thể hiện trong các “chế độ độc tài” các kiểu (quân chủ chuyên chế, tôn giáo chuyên chế, độc tài quân phiệt, cộng sản chuyên chính hay cộng sản độc tài toàn trị…). Thực tế ai cũng có thể thấy rõ sự khác biệt vế ý nghĩa chính trị tốt hay xấu nơi các nước theo chế độ dân chủ và các nước theo chế độ độc tài.

Tại Hoa Kỳ, như quý độc giả quan tâm đều biết qua các cuộc tranh cử vào các chức vụ dân cử hay công cử, tiêu chuẩn đạo đức cá nhân chính trị gia là một tiêu chuẩn hàng đầu gắn liền với tài năng các ứng viên độc lập cũng như do chính đảng đưa ra. Trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ dân cử các cấp liên bang hay tiểu bang và địa phương nói chung, một số ứng viên đã phải bỏ cuộc sau khi công bố ý định ra tranh cử hay mới bước vào tranh cử một thời gian, do bị cử tri hay truyền thông báo chí đưa ra trước công luận những vi phạm đạo đức cá nhân. Thông thường, các ứng viên biết tự trọng phải bỏ cuộc, vì những vi phạm pháp luật liên quan đến ái tình bất chính (vi phạm luật hôn nhân gia đình) hay trốn thuế, thể hiện một phẩm chất thiếu trung thực, bất xứng với nhân cách một người đại diện làm việc cho dân cho nước. Vì vậy, trong cuộc bầu cử vừa qua những người chống ứng cử viên Tổng thống Donald Trump đã cố đưa ra những quan hệ bừa bãi trong đời thường của ông Trump với phụ nữ và cố buộc ông phải công khai hồ sơ khai thuế. Nhưng rốt cuộc ứng cử viên Trump đã không hề hấn gì, có lẽ ông đã không vi luật (hôn nhân gia đình và thuế vụ) mà vợ con của ông và sở thuế đã biết rõ thực chất các vụ tố cáo này chăng? Do đó, trong các cuộc bầu cử tranh cử tự do ở Hoa Kỳ, mọi người đều có quyền bóc trần đời tư cá nhân của một ứng viên mà không sợ bị kết tội vi phạm đời tư cá nhân là như vậy.

Đối với các chức vụ công cử cũng vậy, ngoài tài năng, phẩm chất đạo đức của các ứng viên cũng được xét đến. Vì vậy những người sau khi được tân Tổng thống Donald Trump (cũng như các vị tiền nhiệm) mời tham gia nội các còn phải được sự chuẩn thuận của Quốc hội để được xét nhiều mặt trong đó có phẩm chất đạo đức cá nhân. Một điển hình dưới thời Tổng thống Barrack Obama nhiệm kỳ đầu, đã có ba nhân vật được ông đề cử vào các chức vụ công quyền, nhưng hai trong ba vị này đã phải từ chối sự đề cử sau khi bị phanh phui thiếu thuế. Đó là cựu Thượng Nghị sĩ Tom Dashle, từng là lãnh tụ đảng Dân Chủ tại Thượng Viện, tuyên bố không nhận chức Bộ trưởng Y tế đặc trách chương tình cải tổ y tế đầy tham vọng của Tổng thống Obama, vì đã quên trả tiền thuế $130,000. Khi loan báo quyết định rút lui, ông Dashle nói rằng ông không thể nào thi hành công vụ với niềm tin không trọn vẹn của Quốc hội và người dân Mỹ”. Từ chối của ông Dashle được đưa ra chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi bà Nancy Killefer, người được Tổng thống Obama để cử làm người quản trị ngân sách Tòa Bạch Ốc, một chức vụ mới nhằm theo dõi sự chi tiêu tránh lãng phí của chính phủ, phải từ nhiệm cũng vì vướng mắc với tiền thiếu thuế trong quá khứ. Riêng ông Tim Geithner được đề cử giữ chức Bộ trưởng Tài chánh thì khỏi phải từ nhiệm, vì đã kịp sửa sai sự thiếu thuế. Trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình NBC, Tổng thống Obama nói ông rất buồn, hối tiếc và có lỗi trong việc giải quyết vụ việc này. Ông nói: “Tôi nhìn nhận mình đã sơ suất, lầm lỗi này quan trọng cho cả nội các, vì chúng ta muốn gửi đi thông điệp rằng nước Mỹ không có hai bộ luật riêng rẽ, một dành cho người có chức quyền, và một dành cho dân nghèo”.

Trong khi đó, chế độ độc tài toàn trị cộng sản tại Việt Nam, chẳng cần nói ra thì nhân dân Việt Nam ai cũng biết chính trị không có đạo đức và không cần đạo đức. Vì vậy khác với chế độc dân chủ, các chức vụ công cử đều do sự chọn lựa duy nhất của đảng CSVN. Tiêu chuẩn hàng đầu để được lựa chọn không phải là nhân cách, tác phong và đời sống đạo đức mà là lòng trung thành được thể hiện trong quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách. Tiêu chuẩn tài năng cũng cần, nhưng chỉ là để làm tốt nhiệm vụ đảng giao phó, vì lợi ích của đảng chứ không phải lợi ích của dân. Trong các cuộc bầu cử, đảng CSVN chọn ứng cử viên để dân bầu. Các cử tri cũng được quyền phê phán có mức độ, nhưng nghiêm cấm bới móc đời tư cá nhân ảnh hưởng không tốt cho đảng. Truyền thông, báo chí thì nhà nước nắm độc quyền nên lý lịch các ứng cử viên đảng cho biết đến đâu thì dân biết đến đó. Tội trốn thuế chỉ áp dụng cho nhân dân, cũng như quan hệ bất chính dù vi phạm luật hôn nhân gia đình là không có hay có cũng không được áp dụng với các ứng cử viên được đảng chọn và các quan chức nhà nước cao cấp. Đó là thực trạng phổ biến dưới chế độ “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” hiện nay.

Như vậy có thể nói, chính trị phải có đạo đức, sự vi phạm đạo đức chính trị là do các hành vi của các chính đảng và những người làm chính trị. Có khác chăng là cách xử lý các vi phạm đạo đức chính trị trong chế độ dân chủ có khác chế độ độc tài. Sự khác biệt này được thể hiện qua cách xử lý của Tổng thống Obama và sự tự giác, tự xử những vi phạm đạo đức chính trị của những người được đề cử vào các chức vụ công quyền ở Hoa Kỳ. Trong khi đó, dưới chế độ cộng sản Việt Nam, những ứng cử viên được đảng chọn không tự giác từ chối sự đề cử của đảng khi thấy mình bất xứng về đạo đức đã đành, mà chính đảng CSVN còn coi nhẹ tiêu chuẩn đạo đức và tìm cách bao che những vi phạm pháp luật của các viên chức cầm quyền vì lợi ích cao nhất của đảng.

Tựu trung, trong chế độ độc tài toàn trị như ở Việt Nam hiện nay, có hai thứ luật pháp, một cho nhân dân và một cho những kẻ cầm quyền. Như thế, nó tiêu biểu cho mặt tiêu cực của chính trị, làm mất ý nghĩa cao đẹp của chính trị, khiến nhiều người lầm tưởng hai phạm trù chính trị và đạo đức không thể dung hợp, trong khi thực chất và thực tế chính trị và đạo đức có tính chất song hợp, góp phần chủ yếu vào sự ổn định, phát triển và thăng hoa xã hội lòai người. Vì chính trị mà không có đạo đức, không chỉ phá hủy niềm tin con người mà còn phá hủy cả sự tiến bộ và nền đạo đức xã hội.

SẼ KHÔNG AI THAY ĐỔI ĐƯỢC LỊCH SỬ

FB LS Lê Vi

16-2-2017

Sáng nay, Trường Tiểu học Song Ngữ Bán trú Hoa Sen Ninh Thuận -Tổ chức nghi thức chào cờ, sau đó tổ chức hoạt động tưởng niệm các anh hùng đã hy sinh trong chiến tranh chống Trung Quốc ở biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979 – 17/2/2017).

Suốt 38 năm đã trôi qua, ký ức oai hùng vẫn còn đó, cuộc chiến đấu kiên cường của toàn dân Việt Nam nhằm bảo vệ Tổ quốc, nhân dân ta tay cầm chắc súng với khẳng định: “Cả nước đánh giặc, toàn dân là lính”.

Mờ sáng, 60 vạn quân Trung Quốc tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, tàn sát cư dân, đốt phá, cướp bóc…Xâm phạm chủ quyền Việt Nam bởi những lý do ngụy tạo, thì đó là cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng ta, thế hệ hôm nay không bao giờ quên việc này, không bao giờ quên đồng bào đã chiến đấu, đã hy sinh.

Như gần trăm phần trăm người Việt Nam, chưa bao giờ coi Trung Quốc là bạn. Những bài Sử Việt đã cho chúng ta biết ai là kẻ thù đất Việt suốt bốn ngàn năm. Thời gian đã qua đi, nhưng giá trị lịch sử vẫn còn nguyên vẹn. Chúng ta không được để sự kiện 17/2/1979 rơi vào quên lãng, chìm trong im lặng mà sau này con cháu không hiểu nổi điều gì đã xảy ra. Đó không chỉ là là sai lầm mà là có tội với các thế hệ mai sau.

(Và tất nhiên tôi dạy cho các cháu phải biết người dân Trung Quốc không có lỗi)

h1Ảnh: FB LS Lê Vi

SÚNG & HOA ĐÀO (Chiến sự 17-2-1979 qua lời kể của những nhân chứng đặc biệt)

Huy Đức

17-2-2017

Trên đường từ Thanh Hóa ra, sau một cuộc điện thoại, nhà thơ Nguyễn Duy quyết định, “Mai đi Lạng Sơn”; rồi từ đó, ông cứ nói một mình, “Chẳng còn dịp nào nữa đâu. Chẳng còn dịp nào nữa đâu”.

Người ở đầu dây bên kia, người khiến Nguyễn Duy đưa ra quyết định đó là Hoàng Thị Tú: một trong bốn “tự vệ” giáo viên của trường Đông Kinh Phố; là “Em, hoa đào muộn”; là một trong những “thường dân” cuối cùng cùng nhà thơ Nguyễn Duy rút khỏi Lạng Sơn vào ngày 24-2-1979.

Từ 1990, chị Tú định cư ở Mascova và vừa trở về thăm nhà. Nguyễn Duy gọi thêm hai cuộc điện thoại cho thầy Trương Hùng Anh và thầy Bạch Tiến Hạnh. Hai người đã nghỉ hưu, rất may, đang có mặt ở Lạng Sơn. Sáng 15-2-2017, khi gặp lại nhau ở Lạng Sơn, cả bốn người lần lượt ôm nhau, lặng đi. Trong cái đêm 23-2-1979, khi giặc Trung Quốc đã tới Tam Lung, khi tiếng pháo vẫn liên tục dội về từ Chóp Chài, khi Lạng Sơn sắp mất, họ thức trắng đêm với nhau trong thị xã.

Ngày 17-2-1979, ngay sau khi đài tiếng nói Việt Nam loan tin, “Trung Quốc đã nổ súng xâm lược nước ta trên toàn tuyến Biên giới”, báo Văn Nghệ lập ngay một tổ “phóng viên chiến trường” gồm 5 người, cả 5 vốn xuất thân từ lính, kể cả lái xe Đào Ngọc Chi. Nguyễn Duy vừa cùng gia đình từ Thanh Hóa ra Hà Nội chờ máy bay về lại Sài Gòn được bổ sung vào tổ. Năm ấy, ông 32 tuổi, vừa từ cuộc chiến Campuchia trở về.

Nguyễn Duy nhớ lại: “Chiếc Command car Rumani tòng tọc của chúng tôi hòa vào đoàn xe chở lính lên phía Bắc. Tối 18-2, tới thị trấn Đồng Mỏ, nhà ga đặc kín thương binh và đồng bào chạy giặc. Đường số Một tắc nghẽn… Đêm ấy, chúng tôi ngủ ở chợ Đồng Mỏ cùng với đồng bào. Tôi và Phạm Tiến Duật nằm chung cái bạt võng, trước vỉa hè nhà bưu điện. Anh Hoài An ngủ trên xe với Đào Ngọc Chi. Anh Hồng Phi cùng với Đỗ Chu leo lên cái bàn bán thịt trong lều chợ không có mái. Tiếng đại pháo từ Lạng Sơn vọng về ùng ình suốt đêm…”

Họ lên tới Lạng Sơn vào ngày 19-2: “Thị xã vắng ngắt. Trời se lạnh. Hoa đào phai thấp thoáng trong sương mù. Đại pháo đội sang từ phía Bằng Tường, tiếng đạn rít veo véo, tiếng nổ lộng óc. Xe chúng tôi băng qua cầu Kỳ Lừa, lao về hướng Đồng Đăng”.

Trung đoàn An Lão đang chặn giặc ở nam Đồng Đăng. Một chiến sĩ liên lạc của trung đoàn dẫn các nhà báo lên thẳng đó. “Ga Tam Lung hiện ra trước mặt. Chiếc xe hồng thập tự của bệnh viện Lạng Sơn vừa bị bắn lật, nữ bác sĩ Thủy tử thương. Tiếp theo, chiếc xe của xưởng phim quân đội trúng đạn, chiến sĩ Như Đạt, quay phim, hy sinh tại chỗ. Cối 81 của địch nhằm vào xe chúng tôi. Nhanh như cắt, Đào Ngọc Chi quặt xe vào con đường rẽ. Quân Trung Quốc từ các cao điểm gần đó nã cối theo tới tấp…”

Hầm chỉ huy trung đoàn An Lão nằm trêm sườn cao điểm 417. Vừa gặp, anh Biền, chính ủy trung đoàn đã đề nghị: “Các nhà văn trở về Lạng Sơn ngay cho. Chiến sự đang ác liệt, đơn vị không thể bảo đảm an toàn cho các anh được…”. Các nhà văn, nhà thơ đưa mắt nhìn nhau. Đỗ Chu nói, “Tôi viết về chiến lược chứ không phải chiến thuật”. Phạm Tiến Duật “đồng ý với anh Đỗ Chu”. Hai người quay lại Lạng Sơn.

Hồng Phi nói với Chính ủy trung đoàn An Lão, “Chúng tôi đều con nhà lính, quen thuộc súng đạn cả. Chúng tôi sẽ ở đây theo dõi các trận đánh, và nếu có thể, xin các anh phát vũ khí…”

Chính ủy Biền, nói vắn tắt về tình hình chiến sự. Đêm ấy, trung đoàn An Lão đổi quân ở cao điểm 611, lấy lại được đồi Chậu Cảnh. Căng thẳng quá, sáng 20-2, Nguyễn Duy và Hồng Phi cho lái xe Đào Ngọc Chi xuống nhà khách Giao tế Lạng Sơn, nơi Đỗ Chu và Phạm Tiến Duật đang trú đóng.

Cuối giờ sáng 20-2, Nguyễn Duy lên chốt 417, Trung đoàn cho Tuyến, liên lạc dẫn đường. Tuyến dặn, “Đoạn này ta gài đầy mìn. Anh phải đi sau em 10m, để nhỡ mìn có nổ thì anh cũng không sao”. Gần trưa lên tới chốt, Nguyễn Duy nhanh nhảu cầm máy ảnh nhảy ra khỏi công sự chụp khẩu đội 12,7ly. Những người lính hét lên rồi kéo giật anh xuống hầm. Chỉ trong chưa đầy một phút, cối địch từ tứ phía bắn sang. Hai mảnh đạn cối văng xuống hầm, cắm ngay bên cạnh.

Giặc bắt đầu tổ chức tái chiếm 611. Nguyễn Duy viết: “Từ đỉnh đồi 417, dùng ống nhòm quan sát, thấy quân địch bò lên, đen kín cả sườn đồi, có súng cối và pháo tầm gần yểm trợ. Trên chốt, quân ta chỉ có chưa đầy ba chục chiến sĩ, đêm trước trung đoàn An Lão vừa bàn giao trận địa cho quân địa phương. Đúng giữa trưa thì giặc chiếm được ngọn đồi, chúng dồn hàng đống xác chết lại rải lên từng lớp xăng đặc đựng trong bình vải sơn, và đốt. Trời im ắng, cái im ắng ghê rợn sau trận đánh. Không một gợn gió. Ngọn lửa đốt xác đỏ lòm. Từ đỉnh cao 611, cột khói dựng thẳng đứng lên trời, tỏa ra thành hình cái nấm khổng lồ, đen kịt giữa bầu trời trắng bạc”(Văn Nghệ 2-1983).

Chiều muộn, Tuyến dẫn Nguyễn Duy trở lại sở chỉ huy Trung đoàn. Đêm ấy giặc lấy lại đồi Chậu Cảnh. Sáng 21-2-1979, trung đoàn An Lão được lệnh rút khỏi Tam Lung. Chính ủy Bên nói, “Các anh phải về thôi”. Nấn ná đến trưa, Hồng Phi và Nguyễn Duy vẫn phải men theo đường sắt. Họ lầm lũi bước giữa rải rác xác người và xác trâu, bò.

Trên đường từ Quán Hồ về thị xã, khoảng 6km, họ gặp 4 người lính xơ xác chui từ trong rừng ra. “Bọn em vừa lên thay quân ở 611 thì Tàu đánh lên. Như kiến. Anh em hy sinh hết chỉ còn mấy thằng em, hết đạn phải vất súng lăn xuống núi”. Trong số 4 người lính có một người đứng tuổi, đeo khẩu CKC không còn đạn. Anh nói, “Khẩu này theo tôi từ hơn 10 năm trước khi đánh nhau với quân Park Chunghee ở Bình Định. Không bỏ được”.

Nguyễn Duy và Hồng Phi vét túi còn mấy gói thuốc đưa hết cho họ rồi tiếp tục đi. Không chỉ có 4 người lính ở 611, thầy giáo Bạch Tiến Hạnh nhớ lại, “Thỉnh thoảng lại có những tốp bộ đội ta ngồi khóc hu hu, uất ức; quân giặc tràn lên như kiến mà súng không còn đạn”.

Năm ấy gần như toàn bộ quân chủ lực được dồn hết sang Campuchia. Quân đoàn II chỉ ra tới Bắc Giang, Quân đoàn III chỉ ra tới Thái Nguyên khi giặc Trung Quốc đã rút về bên kia Biên giới. Lực lượng tại chỗ thì bất ngờ. Chị Hoàng Thị Tú nói, “Dù xung đột đã ngấm ngầm xảy ra trước đó. Chúng tôi từng lên Đồng Đăng coi những cuộc chọi nhau bằng đá (vì cấm nổ súng) của cả hai bên. Chiều hôm trước Lạng Sơn vẫn sinh hoạt bình thường, Vậy mà, tờ mờ sáng đã chiến tranh. Chúng tôi được giao ở lại bảo vệ trường, được phát một khẩu K44, 10 viên đạn khi chưa được ai chỉ cho cách sử dụng”.

Nguyễn Duy và Hồng Phi qua cầu Kỳ Lừa thì gặp một thanh niên đi xe Mobylette, anh dẫn hai người về nhà khách giao tế, nơi 3 người còn lại của đoàn đang chờ.

Họ ở lại ba đêm. Ngay trong đêm 21-2-1979, Nguyễn Duy hoàn thành trang thơ Chiến tranh Biên giới cho tuần báo Văn Nghệ. Ông nhớ lại, “Chúng tôi không ngủ, trong nhà khách còn mấy két rượu táo. Chúng tôi uống và vào hang Phai Vệ đọc thơ. Người thanh niên đi xe Mobylette (Hắc Mô Đia, người Tây Nguyên, theo vợ là một cô giáo học chung trường sư phạm về Lạng Sơn) cũng đang dạy ở trường Đông Kinh Phố. Các nhà văn, nhà thơ gặp “tổ tự vệ trường”.

Thầy giáo Bạch Tiến Hạnh nói, “Tôi dạy văn sử, thật không ngờ trong tình huống như vậy, chúng tôi gặp được những người mà mình ngưỡng mộ”. Trong sổ tay của thầy Hạnh vẫn còn giữ bản tốc ký bài thơ ngắn làm tại mặt trận của Nguyễn Duy: ĐÊM Ở CHỐT 417, Thâm lũng, Tam lung… chìm nghỉm trong đen/ Bất chợt lại xanh lè đạn nổ/ Lửa đốt lòng ta những đêm không ngủ/ Là ánh đèn đã tắt dưới làng dân [Lạng Sơn, 22-2-1979].

“Ánh đèn đã tắt dưới làng dân…”

Thầy Hạnh nói, “Mặc dù nhà thơ Phạm Tiến Duật vẫn chép vào sổ tay của tôi bài Ý NGHĨ TRƯỚC TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG, với các câu thơ: “Đồng đội ơi, các anh đánh rất tài/ Nếu chúng chưa thật kinh hoàng, hãy cho thêm trận nữa/ Đến bằng lửa, chúng phải đi bằng lửa/ Lần này đến ống đồng chúng cũng chẳng kịp chui”; Nhưng, ông vẫn thừa nhận là ‘vội’, và nhấn mạnh, bài thơ được ông viết đêm 17, 18-2-1979 khi đang ở Hà Nội, khi chưa chứng kiến những gì diễn ra trên mặt trận Lạng Sơn” (đây hình như là bài thơ duy nhất của Phạm Tiến Duật về 17-2).

Do thiếu sự chuẩn bị, và do quân giặc quá đông, mặc dù những người lính và dân quân tự vệ đã chiến đấu vô cùng anh dũng, theo thầy Hạnh, “dùng từ chính xác là chạy chứ không phải rút”.

Khi vừa LÊN MẶT TRẬN, Nguyễn Duy đã thừa nhận: “Quân giặc tràn qua đèo Hữu Nghị/ Đồng Đăng thất thủ rồi/ pháo Bằng Tường dội sang xối xả/ dằng dặc dòng người sơ tán đổ về xuôi…” Ông nhìn thấy trong dòng người đấy, “Hiển hiện những ngày xưa loạn lạc/ Biên ải xưa giặc giã mới tràn vào/ Những gương mặt nghìn năm đanh sắt lại/ Máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới/ Vẫn mới cả nón mê cả áo vá chân trần…” Đặc biệt là những đôi “Mắt trẻ con cứ tròn thao láo/ Như hòn sỏi ném theo đoàn quân đi”. Sáng 15-2-1979, khi đọc lại bài thơ này, Nguyễn Duy khóc, “Nó oán trách, nó giận hờn, phỉ báng (chúng ta) lắm”.

Năm 1979 ở Lạng Sơn hoa đào nở muộn, nào bạch, nào phai… nở rộ vô tư, vô tư như những thầy cô trong “tổ tự vệ” của trường Đông Kinh Phố. Năm ấy họ chỉ mới 23 tuổi. “Chúng tôi hoàn toàn không biết điều gì đang chờ mình”, thầy giáo Trương Hùng Anh nói.

Đêm 23-2-1979, ngoài “tổ tự vệ” còn có tổ công an vũ trang bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy, nghỉ đổi ca. Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật chép thơ tặng, các chiến sỹ công an vũ trang của đoàn Thanh Xuyên ghi những dòng lưu bút thiết tha. Đêm, trưởng đoàn Thanh Xuyên cho biết, “Trung Quốc đã tràn qua Tam Lung, yêu cầu các nhà báo và các thầy cô giáo rút lui”. Thầy Hùng Anh kể, “Tổ tự vệ” đòi ở lại, Trưởng đoàn Thanh Xuyên quát, “Chúng mày nghĩ, với 10 viên đạn và khẩu K44 này chúng mày có thể làm được gì à, chưa kể không biết có mấy viên đạn lép. Đừng liều lĩnh một cách ngu ngốc”.

Thầy Hùng Anh nói, “Nếu không có nhóm anh Nguyễn Duy thì họ sẽ không đến chỗ khu Giao tế, không gặp các chiến sỹ công an vũ trang đoàn Thanh Xuyên và không được nhóm anh Duy thuyết phục thêm, có thể chúng tôi đã ở lại. Khi đó chúng tôi chỉ là những thanh niên”. Thầy Hạnh nói thêm, “Sau này nhớ lại, nghĩ, nhỡ khi đó mình chết, mọi người sẽ nghĩ mình là gì, một chiến sỹ tự vệ hay một kẻ quay lại hôi của. Tất cả đều có thể. Nhưng, chỉ nghĩ đến chuyện giặc nó sắp đến nhà mà phải bỏ chạy thì đau lắm”.

Sáng hôm sau, 24-2, mọi người quyết định rút. Người phụ trách nhà khách nói, “Còn nhiều thuốc, nhiều chè lắm các anh ạ”. Nhưng theo Nguyễn Duy, họ chỉ lấy một ít, dành chiếc command car để chở đào. Những cây đào trong khu giao tế đã sống hàng trăm tuổi bắt đầu bị chặt. Nguyễn Duy rất tiếc. Cô giáo Hoàng Thị Tú khóc, ngăn lại. Đỗ Chu nói, “Mảnh đất này sắp mất còn tiếc gì mấy cành đào”.

Hoàng Thị Tú là con gái Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Trường Minh. Cô đã không về Đồng Mỏ sơ tán ngay trong sáng 17-2 cùng gia đình, cùng với những người dân thị xã. Cô chốt giữ trường và “chốt lại” mãi trong DẠ HƯƠNG: “Sẽ rất nhớ dáng người vừa thoáng gặp/ Chiều Lạng Sơn súng nổ rụng hoa đào/ Những giọt máu của vườn cây vung vãi/ Trường sơ tán rồi, cô giáo còn chốt lại/ Khẩu súng thép chéo lưng con gái/ Ôi tấm lưng kia ngỡ sinh ra để mà mềm mại… [Nguyễn Duy, Lạng Sơn 22-2-1979].

Khi Nguyễn Duy đã về đến Hà Nội, Dạ Hương đã được đăng lên báo Văn Nghệ, cô giáo Hoàng Thị Tú còn có một hành động vô cùng bồng bột và quả cảm.

Chị Tú nhớ lại, “Khi ngồi trên xe quay về Đồng Mỏ, dù thị xã Lạng Sơn gần như không một bóng người, tôi vẫn luôn tự vấn, luôn có cảm giác như là mình đang bỏ chạy”. Gặp gia đình rồi mới chợt nhớ, toàn bộ hồ sơ của nhà trường, đặc biệt là học bạ, được “tổ tự vệ” mang vào giấu trong hang Phai Vệ vẫn còn đó. “Tôi chỉ nghĩ đơn giản, khi các em quay lại trường mà hồ sơ học bạ không còn thì sao. Tôi nhờ mấy người nhưng không ai đồng ý cùng quay trở lại. Chỉ có anh Chu, lái xe của ba tôi, sẵn sàng cùng đi. Hai anh em chạy chiếc xe Volga đen quay lại Lạng Sơn khi chiều bắt đầu xuống, không biết đó là một hành động cực kỳ nguy hiểm; pháo bắn đuổi theo xe ngay sau khi chúng tôi quay về, qua khỏi cầu Kỳ Cùng”. Toàn bộ hồ sơ, học bạ của trường Đông Kinh Phố đã được cô giáo Tú đem về Đồng Mỏ. Mấy ngày sau đó giặc cho nổ bộc phá phá hang Phai Vệ.

Ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân.

Công thự mà gia đình Tú ở trong khu Tỉnh ủy bị bộc phá giật sập. Thầy Bạch Tiến Hạnh kể, “Khi chúng tôi về lại thị xã, vẫn còn nhìn thấy bộc phá gài trong hàng loạt ngôi nhà, lính Trung Quốc rút đi mà chưa kịp giật nổ”. Thầy Trương Hùng Anh nói, “Quân Trung Quốc biết từng địa chỉ trong thị xã này, tất cả nhà cán bộ đều bị giật sập, tất cả các cột điện đều bị cho nổ bằng bộc phá”.

Tháng 7-1979, nhà thơ Nguyễn Duy quay lại Lạng Sơn. Đường lên Lạng Sơn lúc đó không còn bị bỏ ngỏ như thời 17-2. Nhiều công sự đã được lập với những cái tên như “phòng tuyến sông Như Nguyệt; phòng tuyến sông Cầu…”

Ở Lạng Sơn, ông kể: “Tôi ngơ ngẩn trước cảnh đổ nát. Cả vườn đào cũng bị đánh bằng thuốc nổ, không còn một nhánh, những cục nhựa đào đông lại nơi gốc đào cụt trông như những cục máu bầm chưa khô. Các khu nhà sang trọng chỉ còn là cái đống gạch vụn. Vô vàn mảnh thủy tinh ruột phích nước rải lấp lánh dưới mặt đất. Vòm hang đá núi Phai vệ sập hẳn, có lẽ quân giặc đã phải dùng ít nhất là mười tấn thuốc nổ. Động Tam Thanh nổi tiếng bao đời nay cũng đen ngòm khói thuốc bộc phá, một cái hố rộng hoác, khét lẹt choán hết cả lòng động… Phố nhà, vườn tược, cỏ hoa cho đến cả hang động đều chung một số phận thảm sát”.

Lúc này, Nguyễn Duy chia tay Lạng Sơn, chia tay “tổ tự vệ”, chia tay cô giáo Tú không còn nhẹ nhàng như một thoáng dạ hương. Ông đã “gửi lại đây cái buồn vô cớ “. Còn cô giáo Tú thì “đưa tiễn” ông với “bước chân (vẫn) gìn giữ lắm/ hạt mưa dùng dằng ngọn cỏ ven đê” [Nguyễn Duy thú nhận, chỉ vì đây là một trạng thái “không rành mạch”; chỉ vì sông Kỳ Cùng thì không có đê mà bài thơ của ông được chính ông đổi thành Sông Thao dù “nỗi nhớ bâng quơ” mà ông mang về là từ sông Kỳ Cùng].

Năm 1985, Nguyễn Duy được đưa sang viện Puskin. Ở Nội Bài khi vào trong máy bay thì gặp Tú đã ngồi trong đó, cô cũng được đưa sang Puskin tập huấn về tiếng Nga…

Năm 1989, Nguyễn Duy ra Hà Nội đúng dịp kỷ niệm 10 năm chiến tranh Biên giới, tình cờ gặp, Tú nói, “Lạng Sơn mời chúng ta về, anh đã ra đây thì đi cùng nhé”. Rồi Tú lo xoay vé, 10 giờ đêm, cô tìm tới nhà em gái Nguyễn Duy ở khu tập thể Điện Lực, nói, 3 giờ sáng phải có mặt ở bến xe Gia Lâm.

Nguyễn Duy nhớ lại, trên xe hai người ngồi thu lu, dưới gầm là đồng, là chì… trên nóc xe là mèo, là lợn giống… Đường lên Lạng Sơn không còn nghe danh những phòng tuyến hào hùng, xe chạy qua những Phố Tráng, những Mủng, Mẹt… bắt đầu bị làm luật. “Lần đầu tiên tôi nghe từ làm luật”, Nguyễn Duy nhớ lại.

Cuộc chiến Biên giới kéo dài gần 10 năm, ở những khu vực như “Bình Độ 400…” của Lạng Sơn hay Vị Xuyên của Hà Giang, chiến sự xảy ra trong giai đoạn 1984-1987 là vô cùng khốc liệt.

Lúc ấy, chiến tranh cũng chưa phải là hoàn toàn kết thúc, nhưng Lạng Sơn, bên cạnh những đống gạch nát bắt đầu xuất hiện quán xá. Nông thổ sản, phế liệu được bán sang Trung Quốc, bia Vạn Lực được gùi về. Ở chợ Kỳ Lừa, cửu vạn Việt Nam, ngồi bên cửu vạn Trung Quốc cùng say túy lúy. “Giá như không có chiến tranh”, Nguyễn Duy viết, “Chợ trời bán bán buôn buôn tít mù/ Ta đầy một bị ưu tư/ Giá như cũng bán được như bán hàng/ Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan/ Giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo/ A. Q. túm tóc Chí Phèo/ Để hai bác lính nhà nghèo cùng thua…”

“Ta về thăm chiến trường xưa/ em – hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân/ gió đi để lạnh mưa dầm/ người đi để buốt dấu chân trên đường…” Hai người lang thang suốt hai ngày ở Lạng Sơn. “Tổ tự vệ” lúc đó còn có Bình. Trừ tổ cảnh vệ đoàn Thanh Xuyên, những người có mặt ở Lạng Sơn trong cái đêm 23-2-1979 về sau đều trở thành thân thiết.

Riêng Nguyễn Duy thì không thể nào nguôi nỗi lòng Tô Thị: “Giá như đừng biết ngày xưa làm gì/ Giá như đá chả vô tri/ Để ta hỏi lối trở về thiên nhiên/ Giá như ta chớ gặp em/ Để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng/ Giá như em đã có chồng/ Để bòng bong khỏi rối lòng người dưng”.

Lạng Sơn 1989 là cuộc hội ngộ “sau cùng” của hai người. Năm 1990, Hoàng Thị Tú sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Năm 1993, “để bòng bong khỏi rối lòng người dưng”, chị lấy chồng.

“Chẳng còn dịp nào nữa đâu. Chẳng còn dịp nào nữa đâu”. Tối khuya, về tới Hà Nội, chị, giờ đã bước qua tuổi 60, “đưa tiễn” anh vẫn với “bước chân gìn giữ lắm”. Trước đó, khi chị đòi trả tiền cơm, anh nói to, “Tú ơi, đừng trả, hôm nay em là khách của bọn anh”; chị trả lời rất khẽ, “Em biết, em lúc nào cũng là khách”.

PS: Ý NGHĨ TRƯỚC TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG: I. Tội ác chúng nghìn xưa ta những muốn quyên đi/ Nhưng giặc Tàu ngày nào lại hiện hình dáng cũ/ Sự độc ác và hợm hĩnh cổ truyền/ Đã dẫn xác đến đây nhờ ta đắp mộ/ II. Chút danh dự cuối cùng cũng tự vùi chôn/ Máu Đại Hán hồi này lại lên cơ huyết áp/ Ta đập nát bọn bá quyền xâm lược/ Cũng một phần vì hoa Biên giới mai sau/ III. Đồng đội ơi, các anh đánh rất tài/ Nếu chúng chưa thật kinh hoàng, hãy cho thêm trận nữa/ Đến bằng lửa, chúng phải đi bằng lửa/ Lần này đến ống đồng chúng cũng chẳng kịp chui [Phạm Tiến Duật, Hà Nội đêm 17, 18-2-1979. Kỷ niệm những ngày chung sống với các bạn ở lại thị xã Lạng Sơn trong tầm pháp bắn].

Nhãn hiệu Ivanka Trump – Cuộc chiến về ý thức chính trị

Thạch Đạt Lang

13-2-2017

Áo mang nhãn hiệu Ivanka Trump, sản xuất tại Trung Quốc đã bị hạ giá còn $1. Ảnh: internet

Lần đầu tiên trên nước Mỹ, một thương hiệu hàng hóa đã trở thành một cuộc chiến ý thức về chính trị, xẩy ra giữa những người dân Mỹ với nhau. Đây không phải là một cuộc chiến về màu da, sắc tộc, tôn giáo, giai cấp trong xã hội… Cuộc chiến này hoàn toàn không có tiếng súng, không có bom đạn nên không có máu đổ, thịt rơi, nhà tan, gạch nát… nhưng cũng rất khốc liệt, ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế của Mỹ cũng như có thể làm sập tiệm, đóng cửa các công ty sản xuất hàng hóa tiêu dùng.

Một phong trào tẩy chay các cửa hàng Nordstrom trên nước Mỹ đã làm thay đổi đường lối của ban quản trị khi quyết định dẹp bỏ các mặt hàng mang nhãn hiệu Ivanka Trump. Vài tuần lễ trước, khách hàng tẩy chay Nordstrom vì bày bán những hàng hóa mang nhãn hiệu Ivanka Trump (đa số sản xuất ở Trung Cộng). Hiện nay thì người ta lại tẩy chay Nordstrom vì lý do ngược lại: Cửa hàng không có sản phẩm của Ivanka Trump.

Trong những ngày vừa qua, một cái áo sơ-mi (shirt) không còn đơn thuần là một cái áo, một cửa hàng không hẳn chỉ là một cửa hàng. Những túi xách tay, những cái áo dài và nhiều vật dụng khác đã bị chính trị hóa. Quyết định mua hoặc không mua trở thành những biểu tượng chống đối hay ủng hộ tổng thống Donald Trump. Các thương hiệu lớn như Armour, L.L. Bean, T.J. Maxx… cùng nhiều hãng khác đã bị lôi kéo vào cuộc chiến ý thức chính trị này.

Tuy nhiên, không có cửa hàng bán lẻ nào trở thành chiến trường sôi động như Nordstrom. Làn sóng tẩy chay Nordstrom khiến ban quản trị phải thay đổi cách thức điều hành, sau khi cửa hàng không còn quảng cáo các sản phẩm của Ivanka Trump. Hàng ngàn khách hàng online đã rời bỏ Nordstrom trên trang mạng của họ. Donald Trump cũng phàn nàn trên Twitter rằng người dân đã không đối xử công bằng với con gái ông.

Sự tẩy chay mạnh mẽ trước cũng như sau quyết định của Nordstrom đã diễn ra một cách thầm lặng, không có dấu hiệu báo trước, cho thấy các công ty đang phải điên đầu giải quyết một vấn đề nghiêm trọng ngoài sự tiên liệu.

Ban quản trị của nhiều công ty đang lo lắng. Theo lời của Andrew Gilman, chủ tịch công ty Cố vấn về Khủng hoảng Truyền thông CommCore Consulting Group, một số công ty đang thành lập ban ứng phó tình trạng nguy ngập, khẩn trương.

Thông thường, các tâp đoàn, công ty đều có những cẩm nang để hành động khi một sản phẩm phải thu hồi hay trường hợp chủ tịch tập đoàn bị môt cơn đau tim, tuy nhiên trường hợp này lại khác, họ phải tìm cách đối phó với những tin nhắn trên Twitter của tổng thống.

Nhiều cửa hàng bán lẻ cũng như các thương hiệu tìm cách tránh xa tầm đạn, đứng ngoài các cơn phẫn nộ được phổ biến, trao đổi trên Twitter và Facebook.

Điện thoại, email được gửi đến một số các cửa hàng bách hóa lớn nhất trên nước Mỹ để hướng dẫn cách thức họ đối phó với các sản phẩm của Ivanka Trump, đó là tuyệt đối không bình luận hay bình luận một cách trung tính về những tweet của Trump, hoặc của những người phản đối hay ủng hộ. Không có công ty nào đồng ý thảo luận về những hàng hóa của Ivanka Trump cũng như chi tiết về việc bán những mặt hàng đó ra sao.

Nhiều công ty lớn như L.L. Bean, Macy’s vẫn cảm thấy họ đang trong tầm nhắm của cơn bão trên mạng xã hội, thương hiệu Ivanka Trump đương nhiên vẫn là đích chính.

Phát ngôn viên của một thương hiệu nổi tiếng cho biết: “Hiện tại, chúng tôi thấy rõ là thương hiệu của chúng tôi bị cuốn vào trong cơn bão xung đột chính trị, gây ra những thiệt hại không lường trước được, ngay cả với những mặt hàng chúng tôi sản xuất theo thị hiếu của khách hàng quen thuộc lâu năm”.

Công ty sản xuất quần áo, giầy dép, dụng cụ thể thao Under Armour cũng bị hút vào cơn bão tố nguy hiểm khi Kevin Plank, giám đốc công ty, nói rằng Donald Trump là một “Tài sản thật sự” cho đất nước. Chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ, một dấu hiệu hashtag # tẩy chay Under  Armour được dựng lên trên mạng truyền thông xã hội. Under Armour nhanh chóng hành động, tìm cách giảm thiểu thiệt hại, Kevin Plank nhấn mạnh rằng ông chỉ muốn nói đến sự ủng hộ chính sách điều hành thương trường chứ không phải quan điểm chính trị của ông Trump về mặt xã hội.

Cho đến giờ phút hiện tại, chưa thể ước tính được phong trào tẩy chay cùng các hoạt động đang hình thành sẽ tác động ra sao đến tình hình doanh thu các doanh nghiệp, đặc biệt là các cửa hàng lớn đang phải vất vả đối phó với sự sa sút doanh thu nặng nề trên bảng tổng kết.

Công ty Ivanka Trump cho biết, mức độ tăng trưởng doanh thu của công ty năm 2016 ở 2 số, tức trên 10% và họ đang tiếp tục kế hoạch làm tăng số doanh thu này.

Các công ty sản xuất hàng hóa tiêu thụ từ lâu đã phải đối mặt với sự chống đối sản phẩm của họ vì lý do chính trị, xã hội hoặc môi trường. Người dân đã tẩy chay hàng hóa sử dụng lao động bóc lột, hóa chất nguy hiểm cũng như microbead (một loại hạt nhựa plastic, đường kính nhỏ khoảng 2mm dùng rất nhiều trong mỹ phẩm trước đây, nay đã bị cấm). Hiện nay họ còn phải chịu áp lực nặng nề hơn vì mạng xã hội tác động rất mạnh vào chính trị.

Sau khi Nordstrom dẹp hết các sản phẩm của Ivanka Trump, những người chống đối với Donald Trump đã reo hò, ủng hộ quyết định này. Tuy nhiên, cũng không ít người phản ứng trái ngược, như Josh Cornett, 37 tuổi – một Trumpist – nói với 25.000 người ủng hộ mình rằng không nên mua sắm ở các cửa hàng (Nordstom) đó nữa: “Điều tất cả các bạn cần làm là viết ra một câu và các bạn đã làm xong. Tất cả những điều gì giúp đỡ ông ta (ý nói Trump) tôi sẽ cố gắng xúc tiến. Nếu ai tấn công ông ấy, tôi sẽ bảo vệ”.

Nordstrom cho biết, các mặt hàng mang nhãn hiệu Ivanka Trump bán không chạy, số lượng hàng tồn đọng vẫn được lưu trữ trong kho các cửa hàng. Tuy nhiên điều đó không thể thay đổi cách nhìn sự việc chỉ qua lăng kính chính trị của những người như Cornett.

Maurice Schweitzer, giáo sư về Điều hành, Dữ kiện và Quyết định ở trường Wharton, thuộc đại học Pennsylvania, nói rằng: “Các công ty đang bị lôi kéo vào cơn lốc biểu lộ ý thức chính trị của người tiêu thụ, điều chưa hề xẩy ra trong quá khứ”.

Nordstrom là một trong gần 60 công ty đang nằm trong kính nhắm của Grab Your Wallet, một chiến dịch nhằm tẩy chay hàng hóa online của những doanh nghiệp có liên hệ với thương hiệu Trump. Phong trào này cũng tấn công luôn cả những công ty đã từng quyên góp tài chánh hay tham gia quảng cáo chương trình “The Celebrity” mà Trump được ghi nhận là một trong những nhà sản xuất

Một vài công ty lớn, trong đó có Macy’s là một trong những cửa hàng bách hóa lớn nhất ở Mỹ vẫn tiếp tục bán các sản phẩm quần áo, giầy, dép, túi xách… của Ivanka Trump, tên của họ do đó vẫn nằm trong danh sách tẩy chay của Grab Your Wallet. Macy’s đã từ chối trả lời những câu hỏi liên quan đến vấn đề. Tuy nhiên nhiều công ty có tên trong danh sách đã cho biết, họ không chọn đứng về phía nào và lập trường đó cũng không nên, vì có khả năng họ bị tẩy chay từ cả hai phía.

Một thí dụ là L.L. Bean. Vào những ngày trước khi nhậm chức tổng thống, Donald Trump có gửi một tin nhắn trên Twitter, cám ơn sự yểm trợ của Linda Bean, thuộc L.L. Bean, đồng thời kêu gọi mọi người nên mua hàng hóa của công ty này. Không lâu sau đó, công ty có trụ sở ở Maine này rơi vào tầm nhắm tẩy chay, và công ty này xuất hiện trong danh sách của Grab Your Wallet.

Trong một tuyên bố phổ biến trên mạng xã hội và các nơi khác, ông Shawn Gorman, chủ tịch công ty L.L. Bean đã yêu cầu chiến dịch Grab Your Wallet lấy tên công ty ra khỏi danh sách tẩy chay vì Linda Bean, người đã yểm trợ Donald Trump chỉ là một trong hơn 50 thành viên quản trị công ty. L.L. Bean, không tham gia vào hoạt động chính trị của ứng cử viên hay nhận định về quan điểm chính trị của họ. Ông Shawn Gorman nói, “Chúng tôi không tham gia chính trị”.

Tuy nhiên nhiều công ty khác biểu lộ rõ ràng, cho thấy họ sẵn sàng tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị. Cuối tháng 1/2017, sau khi Donald Trump ký sắc lệnh di trú mới, Howard Schultz, chủ tịch tập đoàn Starbucks tuyên bố sẽ nhận 10.000 người tị nạn vào làm việc cho công ty trong vòng 5 năm tới. Giống như Nordstrom, phản ứng này gây chia rẽ nặng nề trong xã hội.

Giáo sư Schweitz nói: “Một sự khác biệt khuynh hướng thật rõ ràng đã xuất hiện. L.L. Bean muốn tránh xa chuyện chính trị, cho biết không chọn đứng về bất cứ bên nào”. Nhưng Schultz ngược lại, lãnh đạo công ty Starbucks theo khuynh hướng tự do hơn. Ông ta tổ chức việc kinh doanh với cộng tác viên, phục vụ khách hàng theo một phương thức khác.

Cuộc chiến ý thức chính trị về hàng hóa tiêu dùng ở Mỹ này sẽ gây thiệt hại cho kinh tế Mỹ ra sao? Còn chờ thời gian và phải thống kê mới biết được. Liệu sẽ có ảnh hưởng đến cộng đồng Người Việt Hải Ngoại hay người dân trong nước? Cũng không thể biết được, nhưng nếu có chắc cũng không đáng kể, người VN ở đâu cũng thế, thường thờ ơ với tất cả những gì không trực tiếp tác động, ảnh hưởng đến mình, nhất là về chính trị.

Hàng hóa, quần áo, xách tay, túi đeo vai, giầy, dép… của Ivanka sản xuất từ Trung Cộng? Liệu người Việt hay người Mỹ gốc Việt có tiếp tục mua hay tẩy chay? Với một số người, miễn rẻ, đẹp, hợp thời trang… là OK! Nhằm nhò gì ba cái chi tiết lẻ tẻ.

Có chăng sư thay đổi dân chủ trong đảng CSVN?

Từ lâu trong dư luận xã hội Việt Nam vẫn có luồng hy vọng ở sự đột biến nào đó trong đảng CSVN. nhất là hy vọng có một nhóm hoặc một người lãnh đạo cao cấp nào đó có tư duy thay đổi chế độ như trường hợp của Trần Xuân Bách, uỷ viên Bộ chính trị.

Nhiều năm sau khi Trần Xuân Bách bị đảng kỷ luật và buộc phải rời khỏi bộ chính trị ĐCSVN vì có những tư tưởng nhen nhóm chút ít về đòi cải cách chính trị, mở rộng thêm đa nguyên, đa đảng. Từ đó một quãng thời gian dài Việt Nam mê mải theo đường lối của Trung Cộng và không ai nói đến thay đổi hay cải cách về chính trị. Người mang lại hơi thở thay đổi chút là ông Võ Văn Kiệt, nhưng đó cũng chỉ là những hơi thở thoáng qua.

Ở các khoá 10, 11 của đảng nổi lên hai nhân vật mà thiên hạ xì xào rằng họ có thể là những đột biến về chính trị, mang lại thay đổi dân chủ cho Việt Nam là Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang. Nhưng cuối cùng thì cả hai người này đều rời khỏi chiếc ghế quyền lực đỉnh cao để về hưu và mọi thứ không có gì thay đổi.

Không đủ cơ sở để đánh giá hai con người này có tư tưởng muốn thay đổi thật sự hay chỉ là những màn kịch để tranh giành ảnh hưởng, lấy điểm để tạo ra uy tín trong và ngoài nước nhằm củng cố sức mạnh của mình. Thường những người có tư tưởng dân chủ, tiến bộ khi về hưu, họ thường có những phát biểu đòi hỏi cải cách nhiều hơn khi họ còn tại chức. Với ông Dũng thì không, ông về hưu và tuyệt nhiên không có những phát biểu nào nhòm ngó đến chính trị như người khác. Còn với ông Sang thì ngay khi về hưu mấy tháng, ông lớn tiếng đòi hỏi toàn đảng, toàn dân phải trung thành CNXH mà ông TBT Nguyễn Phú Trọng đang dẫn dắt.

Một ông không nói gì, một ông mở mồm ra nói là sắt máu đòi hỏi trừng trị ai đi lệch hướng con đường CNXH. Nếu như ông Dũng còn có hai đứa con làm quan trong đảng, ông nín thanh đã đành. Nhưng với ông Sang mà kêu gọi trung kiên với đảng, với con đường CNXH và với Nguyễn Phú Trọng thì đến giờ khó có  cơ sở nào, để bảo trong nội bộ đảng có những người tiến bộ, có những người cải cách muốn đất nước dân chủ, văn minh.

Sẽ chẳng có một nhân tố nào cao cấp trong đảng có ý muốn thay đổi, cải cách dân chủ trong vòng 10 năm nữa. Tất cả những động thái tưởng như là muốn cải cách, muốn dân chủ chỉ là những màn kịch diễn để người dân sống trong hy vọng. Dẫn dắt họ nuôi niềm tin rằng trong tương lai tới sẽ có thay đổi, hãy bình tĩnh tiến chậm, tiến chắc đừng manh động quá gây bất lợi cho công cuộc.  Chỉ là lừa đảo hết mà thôi.

Hãy nhìn ở một khía cạnh thực tế, khách quan. Chúng ta đặt ra một nhân vật có lý tưởng tiến bộ, có hoài bão muốn đất nước dân chủ,văn minh, cường thịnh. Hãy bỏ qua bước trước kia anh ta là bí thư đoàn đầy nhiệt huyết hay một cán bộ trẻ mẫn cán  trong sáng và đầy năng lực. đường anh ta đi bắt đầu từ một tỉnh uỷ viên hoặc một giám đốc sở thành phố, vụ trưởng  của một bộ.

Hàng ngày anh ta phải lo cho tốt công việc của mình,  để hoàn thành kế hoạch cấp trên đặt ra vào những lần tổng kết quý, năm. Để hoàn thiện như thế, anh ta phải lừa dối, báo cáo láo thành tích, đắp con số ở chỗ này sang chỗ kia. Anh ta không thể nào làm một cách thẳng tay, minh bạch với cả một bộ máy chồng chéo ù lì. Sức anh ta có hạn, anh ta đành chấp nhận mọi thứ miễn sao hoàn thành trách nhiệm không bị kỷ luật ảnh hưởng đến con đường tiến lên.

Song song với việc lo hoàn thành kế hoạch, anh ta còn phải học tập chính trị, học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, học nghị quyết, học các khoá an ninh quốc phòng. Anh ta phải lo sao có được chứng chỉ suôn sẻ, qua được những đợt kiểm tra để chứng minh phẩm chất chính trị trong sáng, kiên định. Như thế chưa đủ , anh ta phải quan hệ tốt với các đồng nghiệp và cấp trên để có thiện cảm khi đến những đợt bình bầu. Cái này mới đáng sợ hơn cả, để quan hệ tốt trong xã hội Việt Nam ngày nay là làm ngơ cho sai trái nào đó của đồng chí. Là đi nịnh bợ cấp trên, cấp trên đi lễ chùa mình cũng phải đi. Cấp trên thích uống rượu, thích đồng hồ, thích xe hơi phải tìm cách ra tiền để có những thứ đó biêú tặng. Đối với cấp cấp ngang hàng phải liên tục có những cuộc nhậu triền miên để nắm bắt thái độ của họ với mình, luôn luôn phải giữ tình cảm. Mà cách giữ nhanh nhất là tham gia cùng những cuộc nhậu đắt tiền, những cuộc chơi bời gái điếm cao cấp. Như thế mới là hoà mình, là đoàn kết, là thái độ chan hoà với đồng chí.

Rồi anh ta cũng phải lo cho gia đình mình, phải có nhà đàng hoàng, xe tương đối, con cái học hành phải được những nơi tốt…để được đẹp mặt với bạn bè, họ hàng, người thân thích.

Anh ta qua được những khó khăn đó, vào đến trung ương, làm bộ trưởng. Nếu anh ta chỉ còn có một nhiệm kỳ hoặc hai nhiệm kỳ là đến tuổi hưu, lúc này anh ta phải lo cho con cái mình có được vị trí ổn định và sáng sủa trong tương lai. Ai là người Việt Nam mà không muốn lo cho con mình như vậy chứ, chẳng ai cả. Ai cũng cũng thế. anh ta đưa con mình vào chân này thì cũng phải đưa con người khác vào chân khác. Con của ông bộ trưởng này làm chánh văn phòng bộ tôi, thì con tôi làm trợ lý cho ông. Em trai tôi làm chỗ này, em vợ ông sẽ làm chỗ kia.

Và như thế anh ta không những trách nhiệm với con cái mình, mà còn cả con cái người khác. Một bộ máy chế độ đầy ắp những người thân thích đan xen nhau như thế. Anh ta liệu muốn thay đổi nó không.?

Có, anh ta vẫn hung nấu ý định muốn thay đổi một xã hội dân chủ, công bằng văn minh như phương Tây. Cứ cho là thế đi cho có tính khách quan và tích cực. Không nên dìm chết cái hoài bão của anh ta mặc dù chúng đã bị dìm ở bao nhiêu yếu tố đã kể trên. Anh ta vẫn còn hoài bão đẹp đó.

Anh ta được vào bộ chính trị, tột đỉnh của quyền lực. Nơi mà điều kiện nhất để anh ta thực hiện hoài bão của mình. Anh ta nghĩ mình từng này tuổi, tiền bạc có, còn tha thiết gì mà không làm một điều gì lớn lao cho đất nước, để lại danh tiếng muôn đời sau như một vĩ nhân. Một nhà cải cách lớn. Anh ta bước qua được sự ươn hèn , ích kỷ, trí trá đã ngấm vào mình trong suốt con đường tiến thân từ bí thư đoàn trường đại học  hoặc chiến sĩ trong lực lượng vũ trang đến vị trí hôm nay. Anh quyết định làm điều gì lớn cho đất nước.

Muốn thế đầu tiên anh ta phải có một nhóm khá đông những quan chức ủng hộ anh ta thay đổi. Cái khó  tiếp theo là anh ta phải tiếp xúc với các cường quốc nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ khi thay đổi và sau thay đổi. Không thể khơi khơi đứng ra tuyên bố vài câu là sự thay đổi đến ngay.

Để được sự ủng hộ chắc chắn, anh ta cần có sự ủng hộ của ban bí thư, uỷ ban kiểm tra trung ương đảng, ban bảo vệ chính nội bộ trung ương, ban tuyên giáo trung ương, bộ công an, bộ quốc phòng, bộ ngoại giao…và các lão thành cách mạng nữa. Lấy gì để đảm bảo rằng những nhân tố chủ chốt ở các ban, bộ ấy đều muốn thay đổi cho đất nước như anh ta. Anh ta cần nhiều năm để thuyết phục họ, trong khi anh ta vẫn phải hoàn thành trách nhiệm trên cương vị mình đang nắm.  Chưa kể những kẻ không đồng ý vì bảo thủ, còn những kẻ cũng thích đổi mới, nhưng lại thích anh ta bị hạ đế thế chỗ là nhiều hơn. Kế hoạch thay đổi chế độ của anh ta mang lại nhiều rủi ro khiến anh ta có số phận như Trần Xuân Bách.

Đến đây thấy rằng, nhân vật của chúng ta dù ở đỉnh cao quyền lực trong chế dộ, dù hoài bão của anh ta vẫn còn. Nhưng để thay đổi được sức anh ta không thể nào làm được. Và anh ta đủ thông minh để không làm cái việc vá trời thất bại thảm hại nhiều hơn là thành công ấy. Anh ta không dại gì mạo hiểm để rồi con cái của mình bị liên luỵ, hoặc tạo ra điểm yếu để lũ đồng bọn anh ta nhè vào đó hạ bệ anh ta xuống đầy nhục nhã với tội phản bội lý tưởng, đi lệch hướng.

Anh ta khoanh tay chọn cách an toàn, qua nhiệm kỳ của mình rồi về hưu, có thể anh ta sửa đổi vài điều nhỏ nhoi để an ủi lương tâm mình, đồng thời anh ta vun vén cho gia đình mình được bao nhiêu hay bấy nhiêu trước khi anh ta hết cơ hội.

Trên đây là giả dụ về một nhân vật có lương tri trong hàng ngũ cấp cao nhất của chế độ . Nếu như có nhân vật như thế anh ta còn chẳng làm được gì, đừng nói là cả một đống cơ hội và xảo trá, ươn hèn nhung nhúc tranh nhau bò lên vị trí cấp cao.

Tất nhiên dòng chảy lịch sử có những khúc biến động nảy sinh ra những nhân tố thay đổi. Nhưng nếu không có những đột biến như thế,  câu chuyện có một nhân vật hay một thế lực nào trong đảng muốn thay đổi thể chế dân chủ là điều hoang đường.  Những câu chuyện như thế vẽ ra chỉ  để an ủi người dân sống trong hy vọng và đừng bức xúc quá đến mức bạo động mà thôi.

Nhưng một xã hội đầy ắp những bức xúc, những cuộc biểu tình nổ ra đến hàng trăm ngàn người ở khắp nơi. Cộng hưởng với sự thanh toán khốc liệt trong đảng. Biết đâu thời thế như vậy sẽ sinh ra một nhân tố thuộc dạng thời thế tạo anh hùng.

Chống “Tự diễn biến, tự chuyển hóa”: Cú lừa lịch sử!

Posted by adminbasam on 10/02/2017

Thạch Nhan

10-2-2017

TBT Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: internet

Phát biểu tại tổ (QH) về dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992, ông Nguyễn Phú Trọng nói: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Có câu “Vua không nói chơi”, thế nhưng ông Trọng thật khéo biết đùa. Nói với người hôm nay, xây dựng CNXH cho ai mà hẹn đến ngót trăm năm nữa, còn chưa biết đã có chưa?! Hay ông Trọng bắt chước nhà danh họa khi trả lời một người hỏi về việc vẽ, vẽ gì là khó và vẽ gì thì dễ. Nhà danh họa trả lời: vẽ người, vật, cây cảnh… khó. Vẽ ma vẽ quỉ dễ.

Vẽ những cái cụ thể trước mắt, ai cũng nhìn thấy và đánh giá được, vẽ ma quỉ không ai nhìn thấy, vẽ thế nào cũng xong! Tất cả mọi người hôm nay bị đảng và ông Nguyễn Phú Trọng xây dựng CNXH cho, nhưng vui lòng chờ đến hết thế kỷ này, tức là lúc đã dời nhà sang ở thế giới bên kia hết rồi mới có CNXH để xài! Như thế mà cũng nói được, chả trách người ta đặt cho hỗn danh là “Lú”! 

Thật ra làm gì có CNXH, và điều quan trọng, đảng có xây dựng CNXH đâu mà chỉ cho người ta thấy. Trên thế giới đã có ai, nước nào thành công khi xây dựng CNXH? Chẳng phải lịch sử của XHCN ghi nhận: đi đến đâu thất bại đến đó, làm chừng nào thất bại chừng đó hay sao.

Riêng tại Việt Nam, sau khi cướp chính quyền, đảng ta mở hàng XHCN long trời lở đất bằng “cải cách ruộng đất”, đấu tố, thảm sát hàng chục ngàn người! Sau năm 1975, hừng hực khí thế chiến thắng, đảng đưa cả nước vào tiếp XHCN ngay, chỉ cần một thời gian ngắn, khoảng mười năm sau, Việt Nam đã có được vị thế đứng ngay trên… miệng vực khánh kiệt! Áp dụng nguyên mẫu bản gốc CNCS thất bại hoàn toàn, từ năm 1986 công cuộc cải cách đổi mới, tự diễn biến tự chuyển hóa bằng cách cắt đi cái đầu XHCN, chỉ còn giữ lại đuôi định hướng XHCN. Chèn thay vào đó, không gì khác hơn: kinh tế thị trường, kinh tế đa thành phần, đa chế độ sở hữu, tư bản tư nhân, còn mời cả tư bản nước ngoài vào “bóc lột” Việt Nam. Nhờ thế mới vực được nền kinh tế ra khỏi thảm họa.

Nói kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, đúng, hay ngụy biện? Trước 1986 kinh tế quốc doanh không là chủ đạo? Tại sao lại thế? Từ sau cải cách mở cửa, kinh tế phát triển được nhờ vào sự có mặt của nhân tố ngoài quốc doanh, kinh tế quốc doanh chỉ là gánh nặng. Hiện nay, đảng cũng đang trong tiến trình cắt luôn cái đuôi XHCN bằng cách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tức là giảm bớt qui mô, yếu tố, hay “chất” XHCN. Nhìn một cách tổng thể, công cuộc đổi mới mà đảng ta tự hào chính là tiến trình tự chuyển hóa thoát ra khỏi CNXH (mâu thuẫn hay lú?). Thực tế, đảng ta đang tiến lên hay triệt thoái XHCN? Cứ theo đà này, thời điểm ý thức hệ CSCN biến mất chỉ trong tương lai gần. Nói một đằng làm một nẻo, tổng Trọng hô hào to thế không thấy ngượng miệng hay sao? Bà con đảng viên có thấy thế không?

Với tiêu đề: “Không chôn vốn trong DNNN, báo Thanh niên viết: “Không thể chôn một lượng vốn rất lớn trong các doanh nghiệp nhà nước mãi trong khi nợ công tăng cao, cần nguồn lực lớn cho đầu tư phát triển, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định sẽ tăng tốc thu hẹp quy mô khối này để vừa lấy tiền đầu tư, vừa tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. Quan điểm trên được thủ tướng đưa ra khi kết luận hội nghị toàn quốc về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016_2020“.

Ban chỉ đạo sắp xếp và đối mới DN cho hay sau 15 năm sắp xếp, số DNNN đã giảm từ 6000 trong 60 ngành, lãnh vực xuống còn 718 DN hoạt động trên 19 lĩnh vực, tính đến hết tháng 10.2016“.

Rõ như ban ngày, đây là tiến lên XHCN hay đẩy lùi XHCN? Tự diễn biến hay chống Tự diễn biến? Xin hỏi các đảng viên, đảng ta đã phản bội lý tưởng CS rồi hay sao?

NGHỊCH LÝ TƯ PHÁP VIỆT NAM!

Nguyễn Đăng Quang

10-2-2017

TT Donald Trump và thẩm phán liên bang James Robart. Ảnh: internet

Tư pháp là một trong 3 thiết chế quyền lực của Nhà nước pháp quyền, bao gồm: Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp. Ở các nước theo thể chế dân chủ, được thiết kế theo mô hình phân quyền hay còn gọi là tam quyền phân lập, theo đó, Quốc hội nắm quyền Lập pháp, Chính phủ nắm quyền Hành pháp, Tòa án và Viện Công tố nắm quyền Tư pháp.

Việc phân quyền theo thể thức tam quyền phân lập là vô cùng thiết yếu và quan trọng, vì nó tạo tạo ra hệ thống cân bằng quyền lực và kiểm soát quyền lực lẫn nhau giữa 3 thiết chế quyền lực nhà nước. Ba nhánh quyền lực này hoàn toàn độc lập với nhau, không phụ thuộc nhau, kiểm soát và hạn chế quyền lực của nhau nhằm thực thi nguyên tắc phân quyền, tức cân bằng quyền lực giữa 3 thiết chế trên trong một nhà nước pháp trị. Không một cá nhân hoặc một tổ chức chính trị nào, kể cả Tổng thống hoặc chính đảng cầm quyền, có thể đứng trên 3 thiết chế quyền lực này. Trên và cao hơn họ chỉ có thể là Hiến pháp mà thôi!

Ở nước ta cũng giống các nước khác trên thế giới, cũng có 3 cơ quan quyền lực là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, nhưng có điều khác là nó không được thiết kế theo mô hình phân quyền, tức tam quyền phân lập, mà là tam quyền “phân công”, có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất! Ai là người có quyền phân công và lãnh đạo 3 cơ quan quyền lực này, thì các bạn hẳn phải thừa biết! Đây có là tính ưu việt của thể chế chính trị nước ta hay không, các bạn cứ căn cứ vào Điều 4 Hiến pháp thì có thể tìm được câu trả lời!

Một sự kiện đang được thế giới theo dõi và bàn luận sôi nổi trong mấy ngày qua là việc cách đây 2 tuần lễ, hôm 27/1/2017, Tổng thống bên xứ Cờ Hoa tên là Đỗ Nam Trăm (Donald Trump) ban hành sắc lệnh hành pháp (Executive Order) về di trú, cấm công dân 7 quốc gia Hồi giáo nhập cảnh vào Hoa Kỳ trong vòng 90 ngày, kể cả trường hợp họ đã được cấp visa hoặc họ có quy chế Green Card (Thẻ Thường trú nhân). Ngay lập tức lệnh này bị dư luận nước Mỹ, đặc biệt là giới luật sư chỉ trích là kỳ thị tôn giáo và vi hiến.

Hai vị Tổng Chưởng lý của 2 tiểu bang Washington và Minnesota đâm đơn kiện sắc lệnh này của Tổng thống. Thẩm phán Liên bang James Robart ở Seattle, tiểu bang Washington, ngày 3/2/2017 ra phán quyết tạm ngưng sắc lệnh này của Tổng thống Trump trên phạm vi toàn quốc! Ngày 5/2/2017, Bộ Tư pháp Mỹ đệ đơn kháng án, yêu cầu khôi phục ngay sắc lệnh của Tổng thống. Sáng nay, 10/2/2017 (giờ VN), Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực 9 ở San Francisco bác bỏ kháng án trên của Bộ Tư pháp Mỹ. Coi như Tổng thống Donald Trump thua! Vụ này có thể sẽ được đưa lên Tòa án Tối cao ở Mỹ để có phán quyết cuối cùng, nhưng khả năng đảo ngược phán quyết của Tòa Phúc thẩm Liên bang Khu vực 9 là rất thấp, tức bên Hành pháp của Tổng thống Đỗ Nam Trăm vẫn tiếp tục thua là rất là cao!

Đấy là chuyện xứ người, và chuyện này đâu có làm xấu hay mất thể diện Hoa Kỳ hoặc thể chế chính trị của họ chút nào đâu. Còn chuyện xứ ta thì sao? Xứ ta thì rất nhiều và vô vàn chuyện phi lý!

Chỉ xin nêu 2 trường hợp thực tiễn dưới đây trong hoạt động Tư pháp xứ ta trong thời gian qua để mọi người xem xét và suy ngẫm. Hai trường hợp này nói lên một điều phi lý đến khó hiểu mà nhiều người cho rằng đó chính là nghịch lý, cần sớm xóa bỏ trong ngành Tư pháp Việt Nam.

Trường hợp thứ nhất: Có 2 vụ để minh chứng. Một là vụ “cướp bánh mỳ” mới xảy ra ở quận Thủ Đức (Tp. HCM) gần đây. Đó là vụ 2 thiếu niên vì đói bụng mà phải cướp bánh mỳ trị giá chỉ có 45.000 VNĐ, liền bị bắt tạm giam, rồi bị đưa ra truy tố trước pháp luật và chịu mức án nghiêm khắc là 8 và 10 tháng tù giam vì “tội cướp giật tài sản”! Vụ thứ hai là vụ “trộm 2 con vịt”. Cách đây không lâu, 3 chàng nông dân ít học và kém am hiểu pháp luật ở huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) ngồi nhậu cùng nhau. Đang cao hứng thì hết “mồi”, thế là họ bắt trộm 2 con vịt của hàng xóm đem nướng để nhậu tiếp. Họ liền bị bắt giam và nhanh chóng bị đưa ra xét xử với tội danh “cướp tài sản công dân”!

Cả 3 chàng nông dân bất hạnh này đều chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, do sốc nổi nhất thời mà phạm tội! Cả 3 đều biết lỗi, tự giác khắc phục hậu quả (đã bồi thường 2 triệu đồng), và được nạn nhân bãi nại. Trong thời gian bị tạm giam, họ thành khẩn khai nhận và “hợp tác tốt” với CQĐT. Nhưng họ vẫn bị tuyên một bản án nghiêm khắc mà người ta gọi là “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”, lần lượt một người 5 năm, 2 người sau mỗi người 4 năm tù, tổng cộng là 13 năm tù giam cho 3 nông dân đã trộm 2 con vịt hàng xóm! Trong cả 2 vụ án này, chẳng thấy một ông “kễnh” Tư pháp nào lên tiếng bênh vực những dân đen ít hiểu biết pháp luật, hoặc ngăn Tòa ra những bản án thái quá cho dân thường như nói ở trên! Nhưng ở trường hợp dưới đây thì lại hoàn toàn khác.

Trường hợp thứ hai:  Sự việc Ban lãnh đạo Tổng Công ty cổ phần Xây dựng xuất khẩu Việt Nam (Vinaconex) thời ông Phí Thái Bình làm Chủ tịch HĐQT có tham ô hay không thì chưa rõ, nhưng vụ đường nước Sông Đà 18 lần bị vỡ đường ống khiến dư luận Hà Nội vô cùng bức xúc, làm cho 177.000 hộ dân Thủ đô lao đao, cực khổ mỗi khi mất nước, và gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước (thành phố HN phải bỏ ra gần 14 tỷ VNĐ cho 18 lần sửa chữa, khắc phục sự cố; dự án phải bỏ ra hơn 1.000 tỷ VNĐ để đầu tư, xây dựng khẩn cấp 1 đường ống mới thay thế đường ống cũ) thì đã rõ! Cơ quan CSĐT (BCA) đã hoàn tất kết luận điều tra bổ sung vụ án: “Vi phạm quy định về xây dựng, gây hậu quả nghiêm trọng”, theo Điều 229 BLHS, và kiến nghị khởi tố vụ án này. Nhưng rất ngạc nhiên và rất bất ngờ, có một ông “kễnh” có tên là “Liên ngành Tư pháp” xuất hiện, đề nghị “Miễn truy tố trách nhiệm hình sự ông Phí Thái Bình và 4 cộng sự”.

Ông Phí Thái Bình, nguyên Chủ tịch HĐQT Vinaconex, sau này được điều về làm Phó Chủ tịch UBND Tp. Hà Nội, người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và để đường ống nước Sông Đà này vỡ đến 18 lần. Song không hiểu sao được thoát tội! Lý do “Liên ngành” đưa ra là 5 cán bộ này mới “vi phạm lần đầu, nhân thân tốt, khai báo thành khẩn và hợp tác tốt với CQĐT” nên không cần đưa ra xết xử trước pháp luật!?

Như vậy, trong vụ án này, “Liên ngành Tư pháp” rõ ràng là đã đứng trên 3 cơ quan tiến hành tố tụng là Công an (Điều tra), Truy tố (Viện Kiểm sát) và Xét xử (Tòa án)! Vậy “Liên ngành Tư pháp” là gì mà quyền lực lớn đến thế?” Đây không chỉ là câu hỏi của rất nhiều người mà còn là tiêu đề của một bài báo rất sắc sảo của nhà báo Xuân Dương trên báo GDVN ngày 23/7/2016! Trong bài báo này, nhà báo Xuân Dương viết, xin trích: “Liên ngành Tư pháp” không phải là một cơ quan, cũng chẳng phải là một tổ chức hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật cho phép! “Liên ngành” không có cơ quan chủ quản, không có quyết định thành lập và con dấu theo quy định của pháp luật. Đó là một chủ thể vô hình!”. Còn nhà báo Ngọc Quang cũng của báo GDVN, trích dẫn ý kiến khẳng định của luật sư Nguyễn Đăng Quang, Trưởng văn phòng luật sư “Đăng Quang&cộng sự” (không phải người viết bài này) là: “Liên ngành Tư pháp” là một tổ chức tự phong và vi hiến!”. Ấy vậy, nhưng 3 cơ quan có chức năng tiến hành tố tụng này vẫn phải tuân theo chỉ thị nói trên của cái gọi là “Liên ngành Tư pháp”! Vậy đây không phải là nghịch lý thì là cái gì?

Cũng giống như “Vụ án vỡ ống nước Sông Đà” nói trên, trong thời gian qua, trên khắp 3 miền đất nước, có rất nhiều cán bộ đảng viên và công chức cao cấp ngang nhiên vi phạm pháp luật, gây thất thoát và thiệt hại lớn cho nhân dân và công quỹ nhà nước, song họ vẫn “ung dung và vênh váo” tại vị để tiếp tục con đường tội lỗi của họ! Có vô vàn trường hợp minh chứng cho NGHỊCH LÝ này, nhưng vì khuôn khổ bài viết có hạn, người viết muốn nêu lên 1 ví dụ điển hình mà dư luận rất rõ và vô cùng bức xúc. Đó là vụ Formosa gây thảm họa môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung.

Đã gần 1 năm rồi, không chỉ 4 tỉnh miền Trung mà gần như cả nước đã và đang ra sức khắc phục tác hại của thảm họa môi trường, nhưng hậu quả để lại vẫn còn rất nặng nề! Nguyên nhân và thủ phạm gây thảm họa này đã rõ, nhưng những kẻ chủ trương “rước” Formosa vào Vũng Áng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) vẫn đang ung dung và vênh váo tại vị. Luật sư Trần Đình Triển, người quê Hà Tĩnh, rất bất bình với thảm họa Formosa, dịp Tết vừa qua trong bài viết Cuối năm xem hài Formosa “Nhổ ít lông chân”, ông bày tỏ chính kiến: “Thảm họa Formosa làm điêu tàn nhân dân 4 tỉnh miền Trung. Mặc dù chưa rõ có tham nhũng và làm tay sai cho ngoại bang hay không, nhưng những sai phạm cũng đã đủ để bỏ tù nhiều kẻ đã cấp phép đầu tư sai, ưu ái miễn giảm thuế cho Formosa, thu hối đất của dân, bồi thường, cưỡng chế trái pháp luật, v.v… Vậy mà chỉ kỷ luật hành chính có một vài cán bộ, nhổ lông chân vài ba sợi cho đỡ ngứa sao? Cái ông Võ Kim Cự, người tổ chức, lãnh đạo nhiều cuộc cưỡng chế, đàn áp dân, phục vụ đắc lực, tận tâm tận ý cho Formosa (Sao các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước không về Hà Tĩnh mà nghe dân chửi, căm thù uất hận con người này!); cớ chi những con người này, có kẻ thì hạ cánh an toàn, kẻ thì vẫn chễm chệ chức này ghế nọ?”.

Vâng, tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến của luật sư Trần Đình Triển! Chính Võ Kim Cự, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, nay là Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, là một trong những kẻ hăng hái rước họa Formosa vào Hà Tĩnh, cần phải bị trừng phạt thật nghiêm khắc trước pháp luật để làm gương cho những kẻ đã gây ra những tội lỗi cho chính người dân và mảnh đất quê hương của mình! Tội lỗi mà Võ Kim Cự phạm phải là nhiều và rất nghiêm trọng, chỉ riêng việc ông ta cố tình vượt mặt Chính phủ, vi phạm Điều 52 Luật Đầu tư 2005 để cấp phép cho Formosa lên đến 70 năm, là tội không thể bỏ qua! Riêng tội lộng quyền, coi thường Chính phủ để vi phạm luật pháp cũng đáng bỏ tù ông này! Nhưng đến nay vẫn có kẻ tìm cách bao che cho Võ Kim Cự để ông ta vẫn bình chân như vại, vênh váo tại chức, thì thật là kỳ quặc! Xin phép được hỏi “Liên ngành Tư pháp” đâu rồi, sao ông không xuất hiện để thực thi chức năng giữ nghiêm “cán cân công lý” của ông đi?

Người viết bài này xin nói thẳng điều sau đây: Nếu ai đó tìm cách bao che, bảo vệ hoặc ngăn cản, trì hoãn việc truy tố những kẻ vi phạm pháp luật trong vụ Formosa Hà Tĩnh, (trong danh sách này, Võ Kim Cự đứng đầu bảng), hoặc những ai trong cái gọi là “Liên ngành Tư pháp” ra lệnh miễn truy cứu trách nhiệm hình sự ông Phí Thái Bình và 4 cộng sự ở Vinaconex, thì đấy không phải là hành vi bảo vệ uy tín và thể diện cho Đảng đâu, mà ngược lại đó chính là hành vi làm mất thanh danh và bôi nhọ Đảng! Những kẻ đó, hơn ai hết, đang làm mất thể diện của Đảng và Nhà nước, cần phải nghiêm trị trước pháp luật đê giữ nghiêm kỷ cương, phép nước!

Tình trạng nội bộ Đảng đang trong quá trình suy thoái trầm trọng ( NQTƯ4-Khóa XII), một phần là do Đảng lâu nay đã để cho các nhóm lợi ích “bán nước, hại dân” tồn tại và ngồi trên luật pháp, thứ đến là Đảng không gương mẫu trong việc thượng tôn pháp luật, để cho số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất thao túng ngành Tư pháp, bắt bộ máy này phục vụ cho lợi ích của chúng, chống lại lợi ích của đất nước và nhân dân! Nếu tình trạng này không được ngăn chặn kịp thời, thì sớm muộn chẳng những Đảng sẽ không còn, mà Đất nước sẽ suy vong! Mong một quyết sách thần kỳ lắm thay!

Hà Nội, chiều 10/2/2017

N.Đ.Q.

Minh định về con đường đấu tranh!

FB Lang Anh

7-2-2017

Gần đây trên trang facebook của tôi sau loạt bài phân tích về chế độ hiện tại, có nhiều comment vào hô hào cách thức lật đổ chính quyền bằng bạo lực. Đại loại những ý kiến này tập trung vào ý tưởng chờ đợi hoặc thúc đẩy khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam, trông đợi nền kinh tế rơi vào đáy khủng hoảng và đói nghèo, trên cơ sở đó thúc đẩy sự bức xúc và tiến tới lật đỏ chính quyền hoặc bằng áp lực hoặc bằng bạo lực. Tôi muốn nói rõ rằng, đó là sự ảo tưởng và ngu đần. Đó là một dạng khác của cực đoan và nó cũng xấu xa không kém sự độc tài cộng sản.

Hầu hết những người họ hào lật đổi chính quyền một cách cực đoan có lẽ chưa bao giờ tự hỏi: Trong 50 năm qua, các cuộc cách mạng đã diễn ra ở nhiều nước độc tài, vậy còn tại các nước tư bản có nền chính trị tự do thì sao?

Thực tế mà ít người nhận ra, số cuộc cách mạng tại các nước tư bản nhiều gấp đôi nếu không muốn nói là nhiều gấp ba các nước độc tài. Có điều rất cả các cuộc cách mạng này đều diễn ra trong hoà bình và dựa trên một nền tảng căn bản: “Sự tiến bộ về dân trí và nhận thức”. Lấy ví dụ từ chính nước Mỹ, dù lập quốc với một bản người hiến phaps về căn bản là bất biến cho đến tận ngày nay, và có một nền chính trị tự do ngay từ ngày đầu lập quốc, nhưng phải mất gần 200 năm, phụ nữ Mỹ mới có quyền bầu cử (năm 1920). Thời điểm kết thúc thế chiến thứ hai năm 1945, Mỹ vẫn là một quốc gia phân biệt chủng tộc nặng nề dù Abraham Lincon đã tuyên bố xoá bỏ chế độ nô lệ trước đó 81 năm (1861). Và phải đến khi Martin LutherKing phát động cuộc đấu tranh bất bạo động trong nhiều năm trời, xã hội Mỹ mới bắt đầu biến chuyển. Sau khi LutherKing ám sát năm 1968, nước nãy vẫn còn phải đi một chặng đường dài trong cuộc cách mạng đòi quyền bình đẳng, thậm chí chính Michael Jackson, một tượng đài âm nhạc có ảnh hưởng lớn đến văn hoá Mỹ và thế giới, cũng từng là một nạn nhân của tệ phân biệt chủng tộc. Cho đến tận năm 2008 khi Obama thắng cử, nước Mỹ đã mất 63 năm để đạt được những tiến bộ về căn bản trong cuộc cách mạng cho sự bình đẳng của nó. Cũng trong cùng thời kỳ, có 3 cuộc cách mạng công nghệ nối tiếp nhau diễn ra trong lòng nước Mỹ. Tất cả đều dựa trên nền tảng của tiến bộ nhận thức và hoà bình. Nó mang lại những thành quả văn minh bền vững.

Nhìn vào lịch sử thế kỷ 20, có thể thấy tất cả các cuộc cách mạng về chính trị dựa trên bạo lực đều để lại hậu quả vô cùng nặng nề, phần lớn trường hợp đều không đạt được mục đích cho sự thịnh vượng, vốn là mục đích tối hậu của mọi sự tiến bộ xã hội. Có lẽ ít ai còn nhớ rằng Iraq, Syria, Lybia đều từng là những quốc gia thịnh vượng, với mức thu nhập bình quan đầu người xếp trên mức bình quân thế giới. Vậy mà hiện nay, sau hàng thập kỷ tính từ cái chết của Saddam Husein, iraq vẫn đang trong tình trạng chiến tranh và chỉ còn là một đống gạch vụn so với quá khứ. Điều tương tự cũng đang diễn ra tại Syria, Lebanon. Những cuộc cách mạng dựa trên bạo lực và hoang tàn, nó dễ dàng thúc đẩy và bị chi phối bởi những xu hướng cực đoan. Kể cả trong tình huống may mắn nhất nếu có một nền chính trị dân chủ được thành lập thì nền văn minh vốn đã từng có cũng đã bị tàn phá và kéo lùi nhiều thập kỷ bởi chiến tranh. Đây là một con đường sai lầm, vì đấu tranh cho tiến bộ xã hội trước hết và bao giờ cũng phải dựa trên sự thịnh vượng và thúc đẩy thịnh vượng, bởi nếu không thì đó là một cuộc đấu tranh vô nghĩa.

Có lẽ cũng rất nhiều người từng quên rằng Hàn Quốc cũng từng bị cai trị bởi những chế độ độc tài liên tiếp nhau. Trước khi có nền chính trị dân chủ như hiện nay, người Hàn Quốc cũng từng phải đấu tranh bất bạo động trong nhiều thập niên. Dù rằng nền chính trị tự do ở Hàn Quốc đã được thúc đẩy sau cái chết của tổng thống Park Chung Hê khi ông ta bị ám sát vào năm 1979, tuy nhiên về cơ bản đất nước ấy đã lật đổ được chế độ độc tài trong hoà bình. Tất cả đều dựa trên nền tảng tiến bộ kinh tế và nhận thức.

Cũng là một sự chuyển hoá hoàn toàn hoà bình, người Đài Loan sau nhiều thập kỷ nằm dưới quyền cái trị độc tài của gia tộc Tưởng Giới Thạch, cuối cùng cũng đạt được một nền chính trị tự do. Cũng chẳng hề có cuộc đấu tranh bạo lực nào diễn ra ở Đài Loan. Người dân đất nước ấy cần mẫn xây dựng nền kinh tế và đấu tranh đòi tự do chính trị trong ôn hoà. Khi thấy không thể kìm kẹp một cộng đồng đã có trình độ rất cao về tư duy, Tưởng Kinh Quốc chịu nhượng bộ và chấm dứt nền cai trị độc tài.

Những cuộc cách mạng ấy có nhiều điểm không hoàn toàn giống nhau, diễn ra trong những bối cảnh lịch sử và văn hoá khác nhau, nhưng đều có điểm chung: Dựa trên nền tảng tiến bộ về nhận thức của con người.

Đây cũng chính là điều tôi muốn nhìn thấy ở Việt Nam. Với một đất nước có nền văn hoá tiểu nông như ở Việt Nam, đồng thời có sự chia rẽ hết sức nặng nề về văn hoá, mọi cuộc đấu tranh dựa trên nền tảng đoi nghèo và bạo lực đều sẽ chỉ dẫn đến hai hậu quả cơ bản. Trước hết là tất cả những thành quả người Việt Nam đã đạt được trong ba thập niên chuyển hướng sang kinh tế thị trường đều có nguy cơ bị xoá bỏ. Thứ hai là trong tình huống bạo lực lan tràn, đất nước rất dễ rơi vào vòng xoáy của những thế lực cực đoan, nhất là khi các quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ với Việt Nam, can thiệp phá hoại bằng cách này hay cách khác. Đó sẽ là một tình huống không thấy ngày mai, nó chỉ thay thế một ác mộng bằng một cơn ác mộng kế tiếp.

Mọi cuộc cách mạng hướng tới văn minh ở Việt Nam, nhất định phải được xây dựng trên nền tảng của sự tiến bộ về tư duy và bằng phương thức hoà bình. Để thúc đẩy sự tiến bộ về nhận thức, nền tảng bền vững của nó chính là sự phát triển về kinh tế, văn hoá và đặc biệt là sự giao lưu hội nhập với thế giới văn minh. Cùng với nó là sự kiên trì nhưng bền bỉ của những công dân tiến bộ trong việc phổ biến những tư tưởng tiến bộ một cách hoà bình, thổi luồng khao khát tự do vào xã hội. Cùng với đó là việc thúc đẩy các phong trào xã hội dân sự, đòi hỏi về nhân quyền, đòi chống tham nhũng, chống bất công, đòi tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và cuối cùng tiến tới đòi quyền bầu cử tự do, quyền lập chính đảng và quyền tự do chính trị. Đó chắc chắn là con đường đấu tranh đạt được thành quả bền vững nhất và cũng chỉ có nó mới là cách giúp đất nước này hướng tới sự thịnh vượng và văn minh, tránh được vũng lầy chiến tranh luôn gắn liền tàn phá và là mảnh đất hứa nuôi dưỡng sự cực đoan.

Trong nhiều năm, tôi có sự chiêm nghiệm rất rõ về tiến trình thức tỉnh tư duy ở Việt Nam. Cùng với sự hội nhập với quốc tế và đặc biệt là cùng với sự xuất hiện của ngày càng nhiều các nhà đấu tranh ôn hoà, số người Việt Nam giác ngộ về nhận thức ngày một tăng theo thời gian. Chiều hướng mà người Việt Nam từ bỏ việc công nhận tính chính danh của nền cai tri độc tài và hướng về các khao khát tự do là một chiều hướng không có sự đảo ngược. Đó là những tiến bộ xã hội bền vững. Tôi tin rằng khi số người Việt thức tỉnh đủ lớn và sẵn sàng xuống đường tuần hành đòi quyền tự do bầu cử, đó sẽ là lúc bình minh lên ở đất nước này.

Con đường đấu tranh cho Việt Nam, do đó luôn luôn phải dựa trên nền tảng thúc đẩy sự thức tỉnh về tư duy, bảo tồn và thúc đẩy sự thịnh vượng vì chẳng thể có trình độ nhận thức cao trên một nền tảng vô giáo dục và đói nghèo. Đó cũng chính là tư tưởng cốt lõi nhất của nhà tư tưởng Phan Chu Chinh, một trí tuệ vượt thời gian của người Việt. Đó cũng là con đường mà tôi đã và sẽ luôn theo đuổi.

P/S: Dù luôn khuyến khích sự tự do trao đổi, nhưng trang nhà tôi nhất định và luôn luôn từ chối mọi quan điểm khuyến khích bạo lực và cực đoan. Mọi ý tưởng cơ hội và đê tiện về việc kéo lùi hoặc cô lập nền kinh tế Việt Nam cũng không phải là thứ được hoan nghênh ở đây. Tất cả những ai có quan điểm này đều sẽ bị block không thương tiếc. Tất nhiên facebook là một xã hội tự do, những người đó cũng hoàn toàn có quyền bình đẳng giống như tôi để chia sẻ bất cứ gì họ muốn trên trang nhà của họ.