Hiến pháp và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ

Cao-Đắc Tuấn (Danlambao)Tóm Lược: Các viên chức cộng sản tại Việt Nam thường so sánh chế độ cộng sản Việt Nam với Hoa Kỳ, nhất là về phương diện tự do, dân chủ, nhân quyền, và pháp luật. Những sự so sánh này thường là “nửa sự thật” và có tính chất xuyên tạc, lưu manh, và gian xảo. Để hiểu rõ và đánh giá chính xác các luận điệu xuyên tạc này, ta cần có kiến thức căn bản về Hiến pháp và hệ thống pháp luật tại Hoa Kỳ. Những kiến thức căn bản này gồ̉m có ý nghĩa của Bản tuyên ngôn độc lập, giá trị của Hiến pháp, hệ thống tòa án, các loại luật, và hủy bỏ luật vì vi hiến. Những đặc điểm của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ gồm có: thông luật, đối nghịch, liên bang và tiểu bang, dân sự và hình sự, các tiêu chuẩn cho gánh nặng chứng minh, và sự phân biệt giữa công và tư.
*
Trong bài trước (Cao-Đắc 2016), tôi nhắc đến sự nguy hiểm của “nửa sự thật.” (Nên ghi nhận rằng “nửa” đây không có nghĩa 50% mà có nghĩa “một phần,” có thể 30% hoặc 60%.) Khi “nửa sự thật” được dùng trong việc xuyên tạc và tuyên truyền, hình thức đó được coi như “dốt hay nói chữ” với ý đồ ác hiểm. Trong niềm hăng say tuyên truyền và nghĩ rằng họ vẫn có thể lừa bịp dân như thời xưa, nhóm cầm quyền cộng sản (NCQCS) tại Việt Nam dùng chiến thuật “nửa sự thật” khi so sánh chế độ cộng sản tại Việt Nam với Hoa Kỳ với mục đích bào chữa sự tàn ác, hiểm độc của mình. Có những người, vì không có cơ hội hoặc phương tiện tìm tòi nửa sự thật còn lại, tin vào nửa sự thật đưa ra, và có hiểu biết sai lầm về sự việc.
Trong bài này, tôi sẽ trình bày những đặc điểm về Hiến pháp và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ với mục đích cung cấp tài liệu căn bản để độc giả có thể hiểu rõ thêm khi đọc những bài viết của người cộng sản so sánh với Hoa Kỳ, nhất là về các phương diện pháp luật, tự do, dân chủ, và nhân quyền.
Việc dịch từ ngữ luật pháp tiếng Anh sang tiếng Việt có thể chưa được thống nhất. Do đó, tôi sẽ ghi tiếng Anh trong ngoặc để độc giả tiện đối chiếu.
A. Dẫn nhập: Hai thí dụ giải thích vấn đề
Tôi xin trình bày hai thí dụ về việc NCQCS so sánh với Hoa Kỳ về các khía cạnh tự do dân chủ và nhân quyền. Hai thí dụ này cho thấy sự ngu xuẩn của NCQCS trong việc so sánh và cũng cho thấy một cách tổng quát hệ thống pháp luật và tinh thần tự do dân chủ tại Hoa Kỳ.
1. Thí dụ thứ nhất: Lật đổ chính quyền và tự do ngôn luận
Khi lý luận rằng tự do báo chí, điều 88 và điều 258 Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam phù hợp với các tiêu chuẩn hoặc luật lệ quốc tế, NCQCS so sánh với điều 2385, chương 115 trong bộ luật Hoa Kỳ để chứng tỏ rằng xứ Hoa Kỳ, nổi tiếng là tự do dân chủ, cũng có luật lệ nghiêm cấm những hành vi nhắm vào lật đổ chính quyền (Xem, thí dụ như, Đỗ 2015, Nguyễn và Hoàng 2013, Trương 2015). Đặc biệt, Trương Minh Tuấn, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, khi còn là Thứ trưởng viết về điều 2385 trong Bộ Luật Hoa Kỳ: “Những quy định chặt chẽ đó không ngoài mục đích ngăn chặn việc lợi dụng tự do báo chí nhằm mục đích chống chính quyền, lật đổ chính quyền, xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân khác” (Trương 2015). Câu này cho thấy các viên chức cộng sản tại Việt Nam có trí hiểu biết thấp kém về hệ thống pháp luật Hoa Kỳ và xuyên tạc sự thật, như sẽ được trình bày sau. Ngoài ra, các bài viết này chỉ đăng nội dung điều 2385 mà không nói đến cách thức tòa Hoa Kỳ phán xét và cách diễn giải phân tích về điều luật. Đó là một hành động đưa ra “nửa sự thật” và có tính chất lưu manh, láu cá, và gian xảo.
Trên thực tế, tòa án Hoa Kỳ theo hệ thống thông luật (sẽ được giải thích sau). Thẩm phán, quan tòa, hay chánh án, xem xét và diễn giải luật dựa vào tiền lệ (một phán quyết trước đó có nội dung tương tự và phải được áp dụng cho các vụ án sau), các quy định của Hiến pháp, và các nguyên tắc về công bằng và tự do. Một điểm rất quan trọng trong việc xem xét và diễn giải là cân nhắc (balancing) các yếu tố khi có mâu thuẫn hoặc đối chọi nhau trong luật lệ. Việc cân nhắc này rất cần thiết vì luôn luôn có những quy luật mâu thuẫn hoặc đối chọi nhau, hoặc quá rộng, hoặc quá hạn hẹp, hoặc một luật có thể chú trọng vào một khía cạnh nào đó mà bỏ qua một hay nhiều khía cạnh khác trong các luật khác.
Điều 2385 trong bộ luật Hoa Kỳ về các hành vi lật đổ chính quyền có thể va chạm đến các luật lệ về tự do ngôn luận và những nguyên lý công bằng. Trước hết, điều 2385 về lật đổ chính quyền chỉ áp dụng cho trường hợp dùng bạo lực và không áp dụng cho việc phát biểu một niềm tin hoặc ý kiến. Quan trọng hơn, điều 2385 không thể nào được coi trọng hơn tự do ngôn luận. Điều 2385 nằm trong bộ luật thường được coi là Bộ Luật Smith (The Smith Act) (Wikipedia 2016h). Luật này, thông dụng trong thời chiến vào Thế chiến thứ hai, được Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPVHK) diễn giải nhiều lần, được sửa đổi nhiều lần theo phán quyết của TCPVHK, và có nhiều phán quyết trở thành tiền lệ có thẩm quyền.
Một tiền lệ quan trọng là vụ Yates v. United States (1957) (Wikipedia 2016i). Tiền lệ này khẳng định điều 2385 chỉ có thể được áp dụng thật hạn hẹp trong trường hợp bạo lực tạo ra mối nguy hiểm rõ rệt và tức thời, thí dụ bom đã được chế tạo cho một cuộc khủng bố đã được sắp xếp. Quan trọng hơn, tiền lệ Yates v. United States nhấn mạnh rằng tự do ngôn luận cho phép người dân chủ trương hoặc ủng hộ học thuyết trừu tượng về lật đổ chính quyền. TCPVHK phán rằng Tu chính án thứ nhất về tự do ngôn luận bảo vệ phát biểu và hành vi cực đoan và phản động (radical and reactionary speech) trừ phi phát biểu và hành vi đó đưa ra mối nguy hiểm rõ ràng và hiện tại (clear and present danger) (tlđd.). Với phán quyết này, TCPVHK hủy bản án kết tội 14 đảng viên Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ. Câu của Trương Minh Tuấn ở trên, do đó, đi ngược lại với tiền lệ Yates v. United States, được coi là luật diễn giải điều 2385 trong Bộ Luật Hoa Kỳ.
2. Thí dụ thứ nhì: Phạm vi công tư và tự do ngôn luận
Gần đây, một bài đăng trên tờ Công An Nhân Dân (CAND) tại Việt Nam so sánh víệc trang mạng Huffington Post gỡ bài viết của một blogger với việc Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam thu hồi thẻ nhà báo của 4 nhà báo (Đặng 2016). Sự so sánh này sai lầm hoàn toàn và được coi là sự so sánh khập khiễng (Nguyễn 2016). Ngoài ra, bài viết này cho thấy sự hiểu biết quá kém cỏi của người cộng sản về nguyên tắc căn bản nhất trong tự do dân chủ và nhân quyền. Đó là sự phân biệt giữa công và tư.
Sự phân biệt giữa công và tư xác định ranh giới phạm vi áp dụng các nguyên tắc tự do, dân chủ, và nhân quyền. Các cơ quan chính phủ và guồng máy cai trị một quốc gia phải tuân theo các quy tắc đặt ra trong Hiến pháp vì họ là cơ quan công, đại diện dân, hoạt động dưới sự chỉ huy của người dân, nhận ngân quỹ từ dân. Ngược lại, các cơ sở tư nhân không nhận gì của dân, và do đó họ có toàn quyền hành xử theo ý họ, miễn là những hành động của họ không xâm phạm đến quyền lợi công. Tại Hoa Kỳ, các cơ sở tư nhân phải theo các luật lệ ảnh hưởng đến dân chúng thí dụ như luật về kỳ thị màu da, tuổi tác, tôn giáo, sách nhiễu tình dục; nhưng họ không cần tôn trọng tự do ngôn luận trong phạm vi kiểm soát của họ, miễn là họ không vi phạm các luật khác như kỳ thị tôn giáo (Cox 2015; Dolgow 2012; Findlaw).
The Huffington Post là một trang mạng tư nhân, thâu thập tin tức và đăng các bài blogs viết bởi những người đóng góp. Những người đóng góp gởi bài đăng không được trả tiền và tự nguyện (Wikipedia 2016j). Là một trang mạng tư nhân có một số khuynh hướng chính trị xã hội nào đó để thu hút độc giả, Huffington Post có toàn quyền quyết định cho đăng hay gỡ bỏ các bài đã đăng, hoặc không cho phép người đóng góp tiếp tục đăng. Đó là một việc hiển nhiên và hợp lý, vì không ai có thể bắt buộc trang Huffington Post phải theo đường hướng chính trị nào.
Ngược lại, nhà báo tại Việt Nam hành nghề dưới sự kiểm soát của Bộ Thông tin và Truyền thông, một cơ quan công; do đó, phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận của mọi nhà báo theo Hiến pháp. Sự phân biệt giữa công và tư là bước đầu tiên trong việc phán xét tính chất vi phạm quyền tự do ngôn luận. Bài viết trên tờ CAND ở trên cho thấy người cộng sản không phân biệt điểm sơ đẳng này, và sự so sánh của họ chỉ làm trò cười cho thiên hạ.
Hai thí dụ trên cho thấy vài khái niệm về đề tài của bài này: sự kém hiểu biết của NCQCS về pháp luật Hoa Kỳ, tính chất độc lập của ngành tư pháp Hoa Kỳ, cách thức tòa Hoa Kỳ phán xét và phân tích luật, và sức mạnh vĩ đại của tự do ngôn luận. Trong phần sau, tôi sẽ đi vào chi tiết về Hiến pháp và các đặc điểm của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.
B. Sự liên hệ giữa Hiến pháp Hoa Kỳ và hệ thống pháp luật tại Hoa Kỳ
Tôi sẽ không đi sâu vào lịch sử Hoa Kỳ và các diễn biến đưa đến sự ra đời của Hiến pháp Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ta cũng nên ghi nhận vài biến cố quan trọng. Trước Hiến pháp Hoa Kỳ có một văn kiện lịch sử rất quan trọng. Đó là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập (The Declaration of Independence), được Quốc hội lục địa thứ nhì chấp nhận vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được coi như là tác phẩm của Thomas Jefferson làm việc trong ủy ban năm người (Thomas Jefferson, John Adams, Benjamin Franklin, Roger Sherman, và Robert Livingston).
1. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập (1776):
Có nhiều khía cạnh đặc sắc trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, nhưng tôi sẽ chỉ nêu ra ba khía cạnh chính (Vile 2015, 4-6):
a) Khái niệm bình đẳng của nhân quyền:
Đoạn thứ nhì trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập là đoạn quan trọng nhất: “Chúng ta tin những sự thật này hiển nhiên, rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng Đấng Tạo Hoá ban cho mọi người một số Quyền không thể tách rời được, trong đó có Sống, Tự Do và mưu cầu Hạnh Phúc.” (“We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.”) Ta nên hiểu đây chỉ là ba quyền tổng quát đưa ra trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Nhiều học giả liệt kê ra một số quyền không thể tách rời được dựa vào các quyền này (Xem, thí dụ như, Conservapedia 2016). Jefferson coi những quyền này được Đấng Tạo Hóa ban cho con người, và do đó chính quyền không được lấy những quyền này của người dân. Ta nên hiểu rằng chữ “men” trong đoạn này không hề có ý chỉ “đàn ông” hoặc “phái nam” mà vào “thời thế kỷ thứ mười tám, như thời bây giờ, các học giả thường dùng đại từ giống đực cho mọi người, kể cả phái nữ” (Vile 2015, 4). Tuyên truyền cộng sản thường dùng cách diễn giải thân cộng cho rằng chữ “men” trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập có nghĩa “đàn ông” mà thôi (Cao-Đắc 2014).
Jefferson hiểu rằng mọi người đến cùng loại và tất cả đều được hưởng một số quyền. Jefferson coi các quyền đó là “Sống, Tự Do, và mưu cầu Hạnh Phúc.” (Xem, thí dụ như Vile 2015, 4; Wikipedia 2016g) Nhiều học giả cho rằng quyền “mưu cầu Hạnh Phúc” là quyền quan trọng và tuyệt diệu nhất vì nó gói ghém mục đích của cuộc đời.
b) Mục đích của Chính quyền:
Jefferson coi mục đích thực sự của chính quyền là phục vụ mọi người bằng cách bảo đảm các quyền lợi của họ. Jefferson tuyên bố rằng chính phủ lấy quyền chính thống không phải từ ý Trời, hoặc sự ủy thác của người lãnh đạo, mà từ “sự đồng ý của người được cai trị.” (Vile 2015, 5).
c) Quyền Cách mạng:
Vì dân tạo ra chính quyền để bảo đảm hạnh phúc họ, Jefferson tuyên bố rằng dân có thể chính đáng thay đổi hoặc lật đổ chính quyền nếu chính quyền không đạt được mục tiêu của mình. Jefferson lý luận rằng dân không nên nổi dậy vì hứng nhất thời hoặc những nguyên do yếu và ngắn ngủi mà chỉ khi một loạt lạm dụng và tiếm quyền cho thấy mưu đồ tạo ra nền chuyên chế tuyệt đối (Vile 2015, 5).
Cũng nên nhắc lại rằng Hồ Chí Minh dùng nguyên văn câu trên khi đọc diễn văn ngày 2 tháng 9 năm 1945, công bố kết quả của vụ cướp chính quyền. Ta thấy rõ Hồ Chí Minh ù ù cạc cạc không hiểu gì về các khái niệm bình đẳng, mục đích chính quyền, và quyền người dân lật đổ chính quyền. Hồ vin vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ chỉ để ve vãn nịnh hót Hoa Kỳ và mượn danh nghĩa Hoa Kỳ trong việc cướp chính quyền trong giai đoạn tranh tối tranh sáng lúc bấy giờ. NCQCS sau này và hiện nay lại càng không hiểu gì về những khái niệm căn bản, nhất là quyền người dân lật đổ chính quyền. Không những thế, NCQCS hiện nay lại còn tiến sâu vào tội ác mà Jefferson đặt ra là lý do cho việc lật đổ chính quyền. Đó là tạo ra nền chuyên chế tuyệt đối. Theo Jefferson, chỉ cần có “mưu đồ” tạo ra nền chuyên chế tuyệt đối cũng đủ cho người dân có chính nghĩa lật đổ chính quyền, không cần phải đợi đến khi nền chuyên chế tuyệt đối đó đã được thiết lập ngày càng kiên cố.
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập lót đường cho các cuộc hội họp, tranh luận, bàn cãi, và văn kiện khác, dẫn đến Hiến pháp Hoa Kỳ.
2. Hiến pháp Hoa Kỳ:
Nền tảng của hệ thống pháp lý Hoa Kỳ là Hiến pháp Hoa Kỳ, được bắt đầu thảo ra vào năm 1787, phê chuẩn bởi mười ba tiểu bang nguyên thủy vào năm 1790, thiết lập hệ thống chính quyền liên bang. Ngoài ra, mỗi tiểu bang cũng có hiến pháp tiểu bang. Hiến pháp Hoa Kỳ là văn kiện tối cao của quốc gia và không một luật lệ nào có thể đi ngược lại các quy định trong Hiến pháp. Điểm này thường là đề tài nhiều tranh cãi.
Câu hỏi quan trọng là làm sao một văn kiện được viết từ thế kỷ thứ 18 có thể chi phối hành vi con người sống trong thế kỷ thứ 21? Tôi sẽ không đi sâu vào vấn đề này, nhưng muốn vạch ra rằng Hiến pháp Hoa Kỳ không có tính chất “tĩnh,” mà có tính chất “động,” nghĩa là được thay đổi thích hợp với cuộc sống văn minh. Có hai lực căn bản cho tính chất “động” này. Lực thứ nhất là Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPVHK), Supreme Court Of The United States (SCOTUS). Hiến pháp được diễn giải bởi TCPVHK gồm có các thẩm phán được cho giữ chức cả đời. Những diễn giải của TCPVHK phản ảnh tình trạng xã hội, chính trị, và các khía cạnh con người theo thời gian, và do đó mang theo tính chất sống động với tiến bộ nhân loại. Lực thứ nhì là các cơ chế rõ rệt hoặc tiềm tàng ngay trong các quy định của Hiến pháp. Thí dụ, cơ chế Tu chính án (Amendment) cho phép người dân sửa đổi Hiến pháp từng phần.
Hiến pháp (liên bang hay tiểu bang) là một văn kiện tối cao định nghĩa các quyền lợi của người dân và quyền hành trong hệ thống chính quyền. Tu chính án thứ nhất cho tới Tu chính án thứ mười tạo thành Bản Tuyên Bố Quyền (Bill of Rights) của Hoa Kỳ và thường được coi là Bản Tuyên Bố Nhân Quyền vì những quyền trong mười Tu chính án này bảo vệ quyền căn bản của con người (Wikipedia 2016e).
 
3. Hệ thống tòa án tại Hoa Kỳ:
Hệ thống tòa án tại Hoa Kỳ khá phức tạp vì có hai hệ thống song song: liên bang và tiểu bang. Tuy có những nguyên tắc căn bản phân chia hai hệ thống này, nhiều khi có những lẫn lộn về pháp quyền (jurisdiction).
Một cách tổng quát, tòa liên bang nghe và xử các vụ kiện liên bang và tòa tiểu bang nghe và xử các vụ kiện tiểu bang. Các vụ kiện liên bang là những vụ liên quan đến tính chất hiến pháp Hoa Kỳ và các vụ liên bang khác. Các tòa tiểu bang là tòa án cuối cùng cho các vụ kiện cáo dính líu đến luật lệ trong tiểu bang và hiến pháp tiểu bang. Khi có những vụ cần phải có diễn giải của luật liên bang, sự diễn giải về luật liên bang hoặc hiến pháp Hoa Kỳ có thể được đưa lên TCPVHK nhưng TCPVHK có thể quyết định nghe hay không nghe những vụ kiện này (Xem, US Courts).
Quan tòa hoặc thẩm phán (judge) liên bang do Tổng thống đề cử và được Quốc hội chính thức bổ nhiệm. Họ thường giữ chức vụ khi có hạnh kiểm tốt, thường là cả đời cho đến khi về hưu. Tuy nhiên, Quốc hội có quyền cách chức thẩm phán liên bang khi họ có hành vi tồi tệ hoặc thiếu tư cách. Quan tòa hoặc thẩm phán tiểu bang thường được bổ nhiệm qua nhiều cách tùy từng tiểu bang: bầu cử, bổ nhiệm trong một thời gian ấn định, bổ nhiệm cả đời, hoặc phối hợp các cách này.
 
Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ:
TCPVHK là tòa cao nhất của mọi tòa liên bang. Hiến pháp Hoa Kỳ không nói rõ rằng tòa án có quyền duyệt xét (review) tính chất hợp hiến của luật lệ (Fallon 2013, 11). Tuy nhiên, TCPVHK tự cho mình quyền “duyệt xét tư pháp” (judicial review) qua phán quyết của Chánh Thẩm Phán Marshall trong vụ Marbury v. Madison (1803) (tlđd., 12-19).
Tòa thường có chín thẩm phán, một Chánh Thẩm Phán và tám Thẩm Phán khác. Họ do Tổng thống đề cử và Thượng viện xác nhận bổ nhiệm. Một khi được bổ nhiệm, các thẩm phán giữ chức vụ cả đời trừ phi họ từ chức, về hưu, hoặc bị truất chức sau khi bị xét có tội. Mọi phán quyết của Tòa được quyết định theo đa số.
 
4. Các loại luật:
Có ba loại luật dựa vào cơ quan tạo ra: lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Mới thoạt nghe, ai cũng tưởng có sự lầm lẫn vì nguyên tắc phân quyền rõ ràng giao phó việc làm luật cho ngành lập pháp. Làm sao ngành hành pháp có thể làm luật? Lại càng có vẻ vô lý khi ngành tư pháp cũng được phép làm luật. Vậy thì phân quyền ở chỗ nào?
Trên lý thuyết, chỉ có cơ quan lập pháp làm luật; nhưng trên thực tế, cơ quan lập pháp không thể có khả năng (nhân lực, kiến thức, hoặc thì giờ) làm đủ hết mọi luật, nhất là những luật liên hệ đến cách thi hành luật, các chi tiết nhỏ nhặt hoặc đặc thù mà cần có kiến thức chuyên môn trong lãnh vực nào đó mới có thể hiểu, hoặc các vấn đề thể thức, hành chánh, hoặc nhân sự. Do đó, cơ quan lập pháp ủy nhiệm cơ quan hành pháp viết các quy chế, nghị quyết, sắc lệnh, quy luật trong việc điều hành các hoạt động của cơ quan hành pháp này. Thí dụ, sắc lệnh Hành pháp (Executive order), các quy định (regulations) của các cơ quan hành pháp (agencies). Các sắc lệnh, quy chế, nghị quyết, quy luật này có hiệu lực như các đạo luật do các cơ quan lập pháp soạn ra, và cũng có thể bị hủy bỏ bởi tòa nếu vi hiến hoặc mâu thuẫn với các luật cao hơn. Hầu hết quốc gia nào cũng đều có loại luật hành pháp này.
Luật do cơ quan tư pháp tạo ra còn gọi là luật do tòa hoặc luật do thẩm phán (judge-made laws) là loại luật đặc biệt chỉ có trong hệ thống thông luật. Luật do tòa là các học thuyết luật được thiết lập bởi các tiền lệ tư pháp (judicial precedents). Nói cách khác, tòa diễn giải luật và sự diễn giải đó tạo nên luật mới. Luật do tòa dựa vào nguyên tắc pháp lý “stare decisis” có nghĩa là theo cái gì được quyết định. Thí dụ, tiền lệ Yates v. United States thảo luận ở trên là luật do tòa diễn giải điều 2385. Luật do tòa đóng góp rất lớn trong nền pháp luật Hoa Kỳ. Hầu hết các luật này được ban hành dưới hình thức ý kiến của các thẩm phán quyết định một vụ nào đó. Khi phán quyết một vụ, các vị thẩm phán không chỉ bỏ phiếu hoặc đưa ra quyết định ngắn gọn, mà phải phân tích các sự kiện, đối chiếu các luật lệ, nhất là các tiền lệ, phân biệt các chi tiết liên hệ, và trình bày lý luận dẫn đến quyết định sau cùng.
5. Tòa hủy bỏ luật:
Như được trình bày ở trên, nhiệm vụ của thẩm phán phúc thẩm trong một phiên tòa là diễn giải luật, chính yếu là tìm hiểu ý nghĩa và phạm vi một đạo luật, và xem xét sự áp dụng luật vào một vụ kiện cáo dân sự hoặc tố tụng hình sự. Trong tiến trình tìm hiểu ý nghĩa và phạm vi một đạo luật, thẩm phán phúc thẩm, tòa tối cao tiểu bang, nhất là TCPVHK, xác định tính chất hợp hiến của luật. Nếu trong việc này, tòa nhận ra luật vi hiến, hoặc đi ngược lại các phán quyết tiền lệ, tòa sẽ hủy bỏ luật.
Có những luật không vi hiến ngay trên mặt, mà cần phải có suy diễn trung gian để đưa ra điều trong hiến pháp mà luật đó vi phạm. Một suy diễn trung gian quan trọng dựa vào học thuyết luật vô hiệu vì mơ hồ (Void for vagueness).
Sự mơ hồ vi hiến là khái niệm dùng trong tòa án liên bang Hoa Kỳ để hủy bỏ các luật lệ hoặc hành động tư pháp. Khái niệm này đến từ học thuyết “tiến trình xét xử theo đúng luật” (due process) trong Tu chính án thứ 5 và thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ. Đại khái, không ai có thể bị truy tố vì không hiểu hành vi nào đang bị luật cấm đoán (Wikipedia 2016f). TCPVHK đã hủy bỏ biết bao nhiêu luật lệ của liên bang, tiểu bang, quận hạt, thành phố với lý do “vi hiến vì mơ hồ” (Volokh 2012). Hủy bỏ luật do vi hiến vì mơ hồ còn được mạnh bạo hơn nếu luật đó cản trở tự do ngôn luận. Tuy nhiên, nhiều khi TCPVHK không cần phải dùng đến vi phạm tự do ngôn luận mà chỉ cần dựa vào học thuyết “tiến trình xét xử theo đúng luật” trong Tu chính án thứ 5 và thứ 14 (tlđd.).
Thí dụ, trong vụ Kolender v. Lawson (1983), một đạo luật của tiểu bang California bắt buộc ai mà “lảng vảng or lang thang trên đường phố phải trình xác minh nhân thân ‘đáng tin cậy và xác thực’ ” khi cảnh sát hỏi, tòa kết luận rằng việc bắt buộc đưa ra xác minh nhân thân “đáng tin cậy và xác thực” thì mơ hồ vi hiến vì “đạo luật hầu như cho phép cảnh sát toàn quyền tùy nghi định đoạt nghi can có theo luật không.” (Post 1994, 495). Từ ngữ khiến cho luật này vi hiến là tính từ “đáng tin cậy và xác thực.” Tiêu chuẩn đó chẳng theo tiêu chuẩn cộng đồng hoặc thể thức hành chánh đã được thiết lập. Áp dụng luật này do đó chỉ có thể phản ảnh ý thích cá nhân, và tùy vào ý thích nhất thời của viên cảnh sát.
Đ̣ộc giả có thể nhận ngay rằng những điều luật như điều 88, 245, và 258 trong BLHS Việt Nam có đầy rẫy những từ ngữ mơ hồ và không thể nào giúp người dân hiểu được hành vi nào thì vi phạm luật và chịu sự diễn giải tùy nghi của người thi hành luật. Các điều này chắc chắn sẽ bị hủy bỏ vì mơ hồ vi hiến dưới tiêu chuẩn pháp luật Hoa Kỳ.
C. Những đặc tính của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ.
Hệ thống pháp luật tại Hoa Kỳ khá phức tạp kể cả lý thuyết và thực hành. Trong bài này, tôi không thể thảo luận đầy đủ mọi khía cạnh, mà chỉ có thể trình bày những nét chính.
1. Thông luật và luật dân sự – Đối nghịch và điều tra:
Trên thế giới hiện nay có nhiều hệ thống luật. Sự phân loại các hệ thống này rất phức tạp vì các hệ thống này không có cùng tiêu chuẩn hoặc có những đặc tính không liên hệ gì với nhau. Tuy nhiên, một cách tổng quát, có hai cách phân loại, và hai cách phân loại này đều đưa đến cùng hai hệ thống căn bản (Xem, thí dụ như, Robbins-Berkeley 2010).
Cách phân loại thứ nhất dựa vào cách thức luật được áp dụng. Dưới cách phân loại này, có hai hệ thống luật chính: (1) thông luật (common law), hoặc thường luật hoặc luật thông thường; và (2) luật dân sự (civil law), hoặc luật lục địa (continental law).
Cách phân loại thứ nhì dựa vào thể thức đi tìm sự thật trong một phiên tòa. Dưới cách phân loại này, có hai hệ thống luật căn bản: đối nghịch (adversarial) và điều tra (inquisitorial). Hệ thống đối nghịch chủ trương rằng “chân lý” hoặc sự thật về các dữ kiện sẽ được phanh phui khi việc đó được thi hành bởi hai phe đối nghịch nhau: trong hình sự, đó là công tố viện và bị cáo; trong dân sự, đó là nguyên đơn và bị cáo. Hệ thống điều tra chủ trương rằng “chân lý” hoặc sự thật về các dữ kiện sẽ được phanh phui khi việc đó được thi hành bởi một cơ cấu điều tra có tính chất vô tư, không thiên vị. Cơ cấu điều tra này thường do một hay nhiều quan tòa hay thẩm phán đảm nhận.
Tuy có tên khác nhau, hai cách phân loại này đưa đến cùng hai hệ thống chính. Hệ thống thông luật thường dùng phương thức đối nghịch và hệ thống luật dân sự thường dùng phương thức điều tra. Do đó, các danh xưng này thường được dùng lẫn nhau. Mọi quốc gia trên thế giới thường theo một trong hai hệ thống này.
Hai hệ thống này có nhiều điểm khác biệt và tương đồng. Ngoài ra, có những hệ thống không nằm trong hai hệ thống này, hoặc có sự trộn lẫn của cả hai hệ thống. Thực ra, hiện nay cũng ít có hệ thống thông luật/ đối nghịch hoặc luật dân sự/ điều tra thuần túy. Hai hệ thống này cũng có ít nhiều ảnh hưởng lẫn nhau và một hệ thống đôi khi có vài tính chất của hệ thống kia.
Sau đây là vài thí dụ quốc gia nào theo hệ thống nào (Xem, CIA; Wikipedia 2016b).
Thông luật/ đối nghịch: Hoa Kỳ (trừ luật tiểu bang Louisiana), Vương Quốc Anh, Gia Nã Đại (trừ Quebec), Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Ấn Độ (trừ vài vùng theo luật dân sự Bồ Đào Nha).
Luật dân sự/ điều tra: Áo, Bỉ, Ba Tây, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (Tàu cộng), Tiệp Khắc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Nhật Bản, Na Uy, Đài Loan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Venezuala.
Mỗi hệ thống có điểm tốt và xấu. Vì khuôn khổ hạn hẹp, tôi không thể trình bày đầy đủ so sánh hai hệ thống này. Độc giả có thể tham khảo thêm ở các tài liệu khác (Xem, thí dụ như, Koch 2004; lawgovpol; O’Connor 2012). Tuy nhiên, hình thức không bảo đảm nội dung. Một quốc gia có thể chế chính trị chi phối tính chất độc lập của ngành tư pháp như Việt Nam thì cho dù theo một hệ thống nào cũng đều vô ích.
2. Liên bang (federal) và tiểu bang (state):
Như trình bày ở trên, pháp quyền của tòa liên bang và tiểu bang được quy định khá rõ ràng. Một vụ kiện cáo phải được đưa ra tòa thích hợp. Một vụ tiểu bang không thể được đưa ra tòa liên bang và ngược lại. Tuy nhiên, có những vụ dính líu cả tiểu bang lẫn liên bang và có thể được đưa ra một trong hai, hoặc cả hai, tòa tùy vào người khởi kiện (nguyên đơn cho dân sự và công tố viện cho hình sự).
Một thí dụ nổi tiếng là vụ Rodney King (Wikipedia 2016a). Rodney King bị các cảnh sát Los Angeles đánh đập sau một quãng truy nã cao tốc vào năm 1991. Cuộc đánh đập được thu hình bởi một nhân chứng và được truyền bá khắp nơi. Có tổng cộng ba phiên tòa cho vụ này: hình sự tiểu bang, hình sự liên bang, và dân sự liên bang.
 
Áp dụng Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền (Bill of Rights) vào tiểu bang:
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền hoặc Mười Tu chính án đầu, nguyên thủy áp dụng cho chính quyền liên bang, không phải tiểu bang. Thực ra mỗi tiểu bang cũng có Hiến pháp và bản tuyên ngôn nhân quyền của mình, nhưng không lúc nào cũng tương đồng với Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền liên bang.
Tu chính án thứ 14 là Tu chính án được TCPVHK diễn giải là Mười Tu chính án Hoa Kỳ đầu được áp dụng cho tiểu bang. Phần 1 của Tu chính án thứ 14 cấm tiểu bang không được từ chối quyền “sống, tự do, và tài sản” của một người mà không có “tiến trình xét xử theo đúng luật” (“due process of law”). Dựa vào câu “tiến trình xét xử theo đúng luật,” TCPVHK dần dà áp dụng các Tu chính án trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền vào tiểu bang. Cho tới này, hầu hết các điều khoản trong Mười Tu chính án được áp dụng vào tiểu bang (Wikipedia 2016d).
Thực ra, chưa chắc Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Hoa Kỳ bảo vệ dân mạnh mẽ hơn các Hiến pháp tiểu bang. Nhiều tiểu bang có điều khoản trong Hiến pháp (tiểu bang) và Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền (tiểu bang) bảo vệ quyền lợi dân trong tiểu bang nhiều hơn Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Hoa Kỳ. Do đó, nhiều học giả cho rằng việc đem Mười Tu chính án Hoa Kỳ đầu áp dụng cho tiểu bang là chuyện không cần thiết, và Mười Tu chính án Hoa Kỳ chỉ thiết lập mức tối thiể̀u, không phải mức tối đa, của quyền lợi người dân (Vile 2015, 120-121).
3. Quan tòa/ thẩm phán/ chánh án (judge) và bồi thẩm đoàn (jury) trong phiên tòa:
Một phiên tòa luôn luôn được điều hành, quản trị, và kiểm soát bởi một quan tòa (còn gọi là thẩm phán hoặc chánh án). Việc tìm kiếm sự thật, hoặc dữ kiện/ sự kiện, trong một phiên tòa có thể được giao phó cho vị quan tòa điều hành hoặc bồi thẩm đoàn (jury).
Điều III của Hiến pháp Hoa Kỳ tuyên bố rằng mọi phiên tòa (liên bang) phải có bồi thẩm đoàn. Quyền này được nới rộng thêm qua Tu chính án thứ sáu của Hiến pháp Hoa Kỳ, trình bày một phần, “Trong mọi cuộc truy tố hình sự, người bị kết tội phải có quyền được có một phiên tòa mau lẹ và công khai, bởi một bồi thẩ̀m đoàn không thiên vị từ tiểu bang và địa hạt nơi tội phạm xảy ra,” và Tu chính án thứ bảy của Hiến pháp Hoa Kỳ, bảo đảm phiên tòa bồi thẩm đoàn trong các phiên tòa dân sự (Wikipedia 2016c). Ta nên nhớ các quyền này áp dụng các vụ tòa liên bang. Như trình bày trên, phần lớn các quyền này cũng được áp dụng cho tiểu bang qua Tu chính án thứ 14, nhưng có vài quyền chưa được đem vào tiểu bang. Thí dụ quyền có bồi thẩm đoàn cho phiên tòa dân sự chưa được bắt buộc phải có trong tiểu bang (Wikipedia 2016d).
 
4. Dân sự (civil) và hình sự (criminal):
Sự phân biệt giữa dân sự và hình sự khá rõ ràng. Đại khái, luật dân sự liên can đến các vụ kiện cáo giữa hai phe về những tranh chấp có tính chất cá biệt, và thường liên hệ đến bổn phận và trách nhiệm giữa hai phe. Luật hình sự liên can đến các vụ truy tố tội phạm bởi chính quyền, đại diện dân chúng, với mục đích bảo vệ xã hội.
Một hành vi có thể đưa đến trách nhiệm pháp lý về cả dân sự lẫn hình sự. Một thí dụ là vụ án Rodney King như đã trình bày ở trên. Một vụ án khác, cũng rất nổi tiếng, liên hệ đến hình sự và dân sự, là vụ án O.J. Simpson. Năm 1995, O.J. Simpson bị truy tố hình sự ra tòa tiểu bang (California) về tội giết người, nhưng không bị kết tội. Gia đình nạn nhân kiện Simpson ra tòa dân sự tiểu bang về cái chết trái luật (wrongful death) của nạn nhân và đòi bồi thường. Simpson bị thua kiện trong vụ kiện này năm 1997.
Lý do có sự khác biệt về quyết định về tội phạm hoặc trách nhiệm pháp lý giữa vụ hình sự và dân sự là tiêu chuẩn kết tội cho hình sự cao hơn tiêu chuẩn dân sự, sẽ được trình bày sau. Ngoài ra, trong các phiên tòa có bồi thẩm đoàn, tỉ lệ bỏ phiếu của hình sự cao hơn dân sự. Với hình sự, hầu hết các tòa đòi hỏi tỉ lệ tuyệt đối, nghĩa là tất cả bồi thẩm viên trong bồi thẩm đoàn phải đồng ý (unanimous) với quyết định. Với dân sự, tỉ lệ này chỉ tương đối, thường là đa số (majority); thí dụ quá nửa.
5. Tiêu chuẩn trong việc tìm kiếm sự kiện hoặc áp dụng luật:
Một phiên toà thường gồm có ba yếu tố: bằng chứng, luật áp dụng, và áp dụng luật vào sự kiện dựa vào bằng chứng. Việc áp dụng luật vào sự kiện dựa vào bằng chứng phải đạt được một tiêu chuẩn nào đó. Tiêu chuẩn này khác nhau tùy vào tính chất của vụ kiện hoặc phiên tòa và là điều kiện cho một bên trong vụ kiện phải chứng minh rằng phiên bản của họ về dữ kiện, bằng chứng, phải đạt một mức độ đáng tin nào đó. Cái trách nhiệm chứng minh đó thường được gọi là “gánh nặng chứng minh” (burden of proof).
Một cách tổng quát, có ba tiêu chuẩn chính thường được dùng trong tòa: Vượt quá hồ nghi/nghi ngờ hợp lý (Beyond a reasonable doubt), rõ rệt và thuyết phục (clear and convincing), và mức độ bằng chứng cao (preponderance of evidence).
a) Vượt quá nghi ngờ hợp lý:
Tiêu chuẩn này khá cao, có nghĩa là tuy không biết chắc chắn 100%, những chứng cớ đưa ra khiến bạn không còn hồ nghi gì nữa. Một cách nôm na, “vượt quá nghi ngờ hợp lý” có thể được diễn giải là “không còn nghi ngờ gì nữa” tuy vẫn có thể có một chút phần không rõ. Thông thường, tiêu chuẩn này coi là có xác suất hoặc mức độ chắc chắn trên 95% (Newman 2007).
Tiêu chuẩn này thường được dùng trong các vụ hình sự. Biện lý hoặc phe buộc tội phải có gánh nặng chứng minh các dữ kiện và bằng chứng của họ vượt quá nghi ngờ hợp lý để buộc tội bị cáo. Sở dĩ tòa dùng tiêu chuẩn cao này vì việc buộc tội một người rất quan trọng, và đòi hỏi bằng chứng khá chắc chắn để có thể bỏ tù bị cáo hoặc tước đi những tự do của bị cáo.
Làm sao mà biết được một bồi thẩm viên có mối hoài nghi hợp lý hay không hợp lý? Như trình bày ở trên, trong phiên họp bồi thẩm đoàn, sau khi bỏ phiếu quyết định, thông thường mọi người tham gia vào cuộc tranh cãi, và ai cũng phải cố thuyết phục người khác theo ý mình. Do đó, ai cũng phải trình bày lý do tại sao họ bỏ phiếu đồng ý hoặc không đồng ý với tội phạm đưa ra.
b) Rõ rệt và thuyết phục:
Tiêu chuẩn này thấp hơn tiêu chuẩn “Vượt quá nghi ngờ hợp lý” ở trên, nhưng cũng đòi hỏi chứng cớ có sức thuyết phục và rõ rệt, không được mơ hồ hoặc chỉ là phỏng đoán. Tiêu chuẩn này đại khái có thể đòi hỏi mức độ chắc chắn khoảng từ 70% tới 90%.
Tiêu chuẩn này thường được dùng trong các vụ kiện dân sự đòi hỏi thiết lập yếu tố nào đó trong luật, thí dụ các vụ kiện cáo về gian lận, dính líu đến di chúc và thừa kế. Đôi khi tiêu chuẩn này cũng được dùng cho vài vụ án hình sự cho các vấn đề phụ thuộc.
c) Mức độ bằng chứng cao:
Tiêu chuẩn này thấp hơn tiêu chuẩn “rõ rệt và thuyết phục” và thường được dùng trong các vụ kiện cáo dân sự hoặc hành chính. Đại khái, “mức độ có bằng chứng cao” có nghĩa là “có phần chắc hơn là không chắc” (more likely than not). Để thỏa mãn tiêu chuẩn này, một bên (thường là nguyên đơn) chỉ cần chứng minh là các chứng cớ, dữ kiện, nguyên do, thiệt hại, mà họ đưa ra có phần đúng hơn là sai. Nếu dùng phần trăm, thì mức độ chắc chắn là hơn 50% (Xem, US Legal).
6. Công (public) và tư (private):
Như đã được trình bày trong phần đầu, sự phân biệt giữa công và tư rất quan trọng vì việc đó cho biết luật nào có thể áp dụng được. Một cách tổng quát, “công” liên hệ đến chính quyền và “tư” liên hệ đến cá nhân. Sự phân biệt này quan trọng vì những gì liên hệ đến công đều phải được điều hành bởi các luật lệ chính quyền và theo hiến pháp. Ngược lại, những gì dính líu đến tư nhân không phải theo các luật lệ hiến pháp trừ phi những sự kiện đó có tác dụng trên công chúng, như kỳ thị màu da, tôn giáo, tuổi tác.
Công và tư có thể dùng để chỉ nơi chốn, nghĩa vụ, quyền lợi. Thí dụ, khuôn viên một trường học công lập là địa điểm công, nhưng bãi đậu xe của một cơ sở thương mại tư nhân là địa điểm tư. Có vài trường hợp “tư” có thể coi là “công” nếu việc “tư” đó có tác dụng “công.” Thí dụ khi sân chơi một trường học tư thường được chính phủ dùng là nơi các ứng cử viên cho các chức vụ chính quyền vận động tranh cử thì sân chơi đó có thể được coi là “công.”
Trên đây chỉ là phác họa vài nét về Hiến pháp và hệ thống pháp luật Hoa Kỳ. Có rất nhiều đặc điểm trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ nhưng tôi không thể trình bày hết. Vài thí dụ như: sự khác biệt giữa vấn đề pháp lý (question of law) và vấn đề dữ kiện (question of fact), các thể thức kháng cáo, chi tiết về bồi thẩm đoàn, tính chất công khai của các phiên tòa. Những đặc điểm trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành các khái niệm về nhân quyền, tự do, và công lý.
D. Kết Luận:
NCQCS tại Việt Nam thường so sánh tình trạng nhân quyền và pháp luật tại Việt Nam với Hoa Kỳ. Những sự so sánh này hầu hết sai lầm, mang tính chất xuyên tạc và tuyên truyền với mục đích cố chứng minh rằng những quy luật tại Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, rất quan trọng cho dân Việt Nam, nhất là các thành phần trí thức, sinh viên học sinh, và giới trẻ, hiểu rõ sự thật để có một cái nhìn chính xác về tình trạnh nhân quyền và pháp luật tại Việt Nam. Hiểu biết về Hiến pháp và hệ thống pháp luật tại Hoa Kỳ sẽ giúp dân có một khái niệm cụ thể về các tiêu chuẩn tại các quốc gia tự do dân chủ, và đánh giá chính xác tình trạng luật pháp tại Việt Nam.
Để hiểu thêm về nhân quyền và thể thức thi hành luật hình sự, ta nên tìm hiểu về các Tu chính án trong mười Tu chính án đầu tiên trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Quan trọng nhất là các Tu chính án thứ nhất, thứ tư, thứ năm, và thứ sáu. Nếu có dịp, tôi sẽ trình bày về các Tu chính án này trong các bài sắp tới.
 
GHI CHÚ:
Tôi viết bài này đặc biệt tặng cháu Khoái Văn Nghệ và tất cả các sinh viên, học sinh, và giới trẻ tại Việt Nam.
Tài Liệu Tham Khảo:
tlđd.: tài liệu đã dẫn, thay cho “sđd.” (sách đã dẫn) để chỉ tài liệu (sách, trang mạng, liên lạc riêng, v.v.) đã trích dẫn xuất hiện ngay trước trích dẫn này.
Cao-Đắc, Tuấn. 2014. Dốt hay nói chữ. 1-12-2014. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/12/dot-hay-noi-chu.html (truy cập 24-4-2016).
_________. 2016. Không biết, cố tình không biết, ngu dốt, im lặng, và chối bỏ. 7-9-2016. http://danlambaovn.blogspot.com/2016/09/khong-biet-co-tinh-khong-biet-ngu-dot.html (truy cập 21-9-2016).
CIA. Không rõ ngày. The World Factbook: The Legal Systems. Không rõ ngày. https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2100.html (truy cập 28-7-2016).
Conservapedia. 2016. Unalienable rights. Thay đổi chót: 27-7-2016. http://www.conservapedia.com/Unalienable_rights (truy cập 13-9-2016).
Cox, Jeannette. 2015. A Chill Around the Water Cooler: First Amendment in the Workplace. 2015. http://www.americanbar.org/publications/insights_on_law_andsociety/15/winter-2015/chill-around-the-water-cooler.html (truy cập 22-9-2016).
Dolgow, Michael. 2012. Where Free Speech Goes to Die: The Workplace. 3-8-2012. http://www.bloomberg.com/news/articles/2012-08-03/where-free-speech-goes-to-die-the-workplace (truy cập 22-9-2016).
Đăng Minh. 2016. Từ chuyện nhà báo bị đuổi việc vì xúc phạm bà Hillary Clinton. 19-9-2016. http://cand.com.vn/Chong-dien-bien-hoa-binh/Tu-chuyen-nha-bao-bi-duoi-viec-vi-xuc-pham-ba-Hillary-Clinton-408661/ (truy cập 22-9-2016).
Đỗ Phú Thọ. 2015. Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật. 2-3-2015. http://www.tuyengiao.vn/Home/Bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-Dang/73964/Tu-do-phai-dat-trong-khuon-kho-cua-phap-luat (truy cập 19-9-2016).
Fallon, Jr., Richard H. 2013. The Dynamic Constitution: An introduction to American Consitutional Law and Practice. Second Edition. Cambridge University Press, New York, New York, U.S.A.
Findlaw. Không rõ ngày. Freedom Of Speech In The Workplace: The First Amendment Revisited. Không rõ ngày. http://corporate.findlaw.com/law-library/freedom-of-speech-in-the-workplace-the-first-amendment-revisited.html (truy cập 22-9-2016).
Koch, Charles H., Jr. 2004. The Advantages of the Civil Law Judicial Design as the Model for Emerging Legal Systems. Indiana Journal of Global Legal Studies. Vol. 11, Issue 1, Article 6. Winter 2004. http://www.repository.law.indiana.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1278&context=ijgls (truy cập 28-7-2016).
lawgovpol. Không rõ ngày. Common law – advantages and disadvantages. Không rõ ngày. http://lawgovpol.com/common-law-advantages-disadvantages/ (truy cập 28-7-2016).
Newman, Jon O. 2007. Quantifying the standard of proof beyond a reasonable doubt: a comment on three comments. 23-7-2007. http://lpr.oxfordjournals.org/content/early/2007/07/23/lpr.mgm010.full.pdf+html (truy cập 16-4-2016).
Nguyễn Dư. 2016. Một sự so sánh khập khiễng không thuyết phục để bênh vực cho chế độ CSVN. 21-9-2016. http://danlambaovn.blogspot.com/2016/09/mot-su-so-sanh-khap-khieng-khong-thuyet.html (truy cập 22-9-2016).
Nguyễn Hữu Phúc và Hoàng Thế Nhân. 2013. Điều 88 Bộ luật Hình sự phù hợp với luật pháp quốc tế và thực tiễn Việt Nam. 5-8-2013. http://tapchiqptd.vn/zh/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/dieu-88-bo-luat-hinh-su-phu-hop-voi-luat-phap-quoc-te-va-thuc-tien-viet-nam/4067.html (truy cập 21-9-2016).
O’Connor, Vivienne. 2012. Common Law and Civil Law Traditions. 3-2012. http://www2.fjc.gov/sites/default/files/2015/Common%20and%20Civil%20Law%20Traditions.pdf (truy cập 28-7-2016).
Post, Robert C. 1994. Reconceptualizing Vagueness: Legal Rules and Social Order. 82 Cal L. Rev. 491 (1994). Available at: http://scholarship.law.berkeley.edu/californialawreview/vol82/iss3/2 (truy cập 22-9-2016).
Robbins-Berkeley. 2010. The Common Law and Civil Law Traditions. 2010. https://www.law.berkeley.edu/library/robbins/pdf/CommonLawCivilLawTraditions.pdf (truy cập 28-7-2016).
Trương Minh Tuấn. 2015. Tự do báo chí không phải là vô hạn. 8-6-2015. http://www.nhandan.com.vn/binhluan/binh-luan-phe-phan/item/26576602-tu-do-bao-chi-khong-phai-la-vo-han.html (truy cập 21-9-2016).
USCourts. Comparing Federal & State Courts. http://www.uscourts.gov/about-federal-courts/court-role-and-structure/comparing-federal-state-courts (truy cập 5-3-2016).
USLegal. Preponderance of the Evidence. http://courts.uslegal.com/burden-of-proof/preponderance-of-the-evidence/ (truy cập 16-4-2016).
Wikipedia. 2016a. Rodney King. Thay đổi chót: 4-3-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/Rodney_King (truy cập 5-3-2016).
_________. 2016b. List of national legal systems. Thay đổi chót: 26-7-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_national_legal_systems (truy cập 28-7-2016).
_________. 2016c. Juries in the United States. Thay đổi chót: 3-3-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/Juries_in_the_United_States (truy cập 9-4-2016).
_________. 2016d. Incorporation of the Bill of Rights. Thay đổi chót: 23-3–2016. https://en.wikipedia.org/wiki/Incorporation_of_the_Bill_of_Rights (truy cập 9-4-2016).
_________. 2016e. United States Bill of Rights. Thay đổi chót: 20-3–2016. https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Bill_of_Rights (truy cập 11-4-2016).
_________. 2016f. Vagueness doctrine. Thay đổi chót: 21-2-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/Vagueness_doctrine (truy cập 15-4-2016).
_________. 2016g. United States Declaration of Independence. 22-4-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Declaration_of_Independence (truy cập 24-4-2016).
_________. 2016h. Smith Act. Thay đổi chót: 31-8-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/Smith_Act (truy cập 21-9-2016).
_________. 2016i. Yates v. United States. Thay đổi chót: 10-7-2015. https://en.wikipedia.org/wiki/Yates_v._United_States (truy cập 21-9-2016).
_________. 2016j. The Huffington Post. Thay đổi chót: 11-9-2016. https://en.wikipedia.org/wiki/The_Huffington_Post (truy cập 22-9-2016).
Vile, John R. 2015. A Companion to the United States Constitution and its Amendments. Sixth Edition. Praeger, ABC-CLIO, Santa Barbara, California, U.S.A.
Volokh, Eugene. 2012. The Void-for-Vagueness / Fair Notice Doctrine and Civil Cases. 21-6-2012. http://volokh.com/2012/06/21/the-void-for-vagueness-fair-notice-doctrine-and-civil-cases/ (truy cập 14-4-2016).
23.9.2016

Cựu bí thư Bình Phước: ‘Tôi không ưu ái con mình’

(PL)- Ông Nguyễn Tấn Hưng, cựu Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước: “Nhiều lần tôi đề nghị gạt con tôi ra khi tập thể đề xuất”.

Liên quan đến thông tin gây xôn xao dư luận mấy ngày qua về việc bổ nhiệm các con của ông Nguyễn Tấn Hưng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước (là ông Nguyễn Tấn Hùng – Tổng Giám đốc Công ty Cao su Bình Phước và ông Nguyễn Tấn Hải – Bí thư Huyện ủy Chơn Thành), tối 22-9, Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với ông Hưng về vấn đề này.

Ông Hưng nói: “Việc bổ nhiệm hai người con của tôi ở vị trí lãnh đạo, nhiều lần tôi đã gạt ra rồi. Nhưng tổ chức giới thiệu nhiều lần quá nên tôi có đề xuất là tập thể, tổ chức phải làm đúng quy trình chứ không phải vì tôi là bí thư”.

“Tập thể đề xuất, tôi không can thiệp gì”

. Phóng viên: Như vậy theo ông, việc bổ nhiệm hai người con là quyết định của tập thể chứ không có sự tác động hay nể nang gì?

+ Ông Nguyễn Tấn Hưng: Trước hết tôi nói về quy trình bổ nhiệm của Hùng. Hùng trước đây làm trưởng Phòng TN&MT huyện Hớn Quản. Sau đó được tập thể Ban Thường vụ huyện đề xuất hai lần bầu vào phó chủ tịch huyện nhưng tôi không chịu. Tôi đề nghị Ban Thường vụ huyện không đưa Hùng vào mà đưa người khác. Sau một thời gian thì anh em lại tiếp tục đưa Hùng vào diện để bầu, lúc đó tôi có nói làm như vậy khéo dư luận xôn xao. Nhưng anh em trong Ban Thường vụ huyện nói đây là sự tín nhiệm và quyết định của Ban Thường vụ. Sau đó Hùng được chuyển về làm phó tổng giám đốc Công ty Cao su Bình Phước cũng là do tập thể đề xuất đưa về chứ tôi không hề có can thiệp gì.

 

Đối với việc bổ nhiệm Hải làm bí thư huyện Chơn Thành cũng vậy. Ngay đầu nhiệm kỳ khi tôi làm bí thư Tỉnh ủy, tập thể có đề xuất đưa Hải từ Công ty Cao su Sông Bé vô Ban Thường vụ Huyện ủy Chơn Thành nhưng tôi cũng gạt ngay vì lúc này đưa con tôi vào thì không có “linh”, không có hay. Tôi làm sao chỉ đạo được anh em khi đưa con mình vào vị trí lãnh đạo huyện ủy. Cho nên tôi đưa anh em trẻ khác vào các vị trí bị khuyết mà không đồng ý để Ban Thường vụ đưa con tôi vào.

. Ông gạt con mình ra nhưng tập thể sau đó lại đưa vào bầu, lúc đó ông có ý kiến gì không, thưa ông?

+ Thú thật làm cha mẹ thì khi con trưởng thành ai mà không mừng nhưng trước các đề xuất của tập thể, tổ chức thì tôi có nhiều lần bác. Tôi đề nghị đưa người khác về để hoãn con tôi lại. Nhưng anh em nói không phải con cán bộ nào cũng được tập thể tín nhiệm. Chứ như trường hợp của Hùng, Hùng được bầu vào phó chủ tịch huyện thì khi qua công ty cao su cũng làm phó tổng giám đốc thôi. Hai phó ngang nhau mà. Tôi có nói với anh em là nếu thương tôi thì anh em phải thật cẩn thận, nghiêm túc trong làm quy trình và cũng đóng góp cho con tôi để xây dựng. Tôi khó lắm! Khi anh em xin về công ty cao su, tôi có nói phải xem xét kỹ khéo người ta hiểu lầm.

Khi có đề xuất Hùng lên tổng giám đốc công ty thì tôi có nói anh em là không nên làm vậy vì lúc này tôi đang là bí thư. Mặt khác, anh Tuyến (Nguyễn Xuân Tuyến – Tổng Giám đốc công ty) tới năm 2019 mới nghỉ hưu. Khi nào anh Tuyến nghỉ hưu thì tập thể đề xuất Hùng cũng được. Như vậy có thời gian dài để con tôi có thêm kinh nghiệm.

Khi tôi về hưu (tháng 6-2016) một thời gian thì Hùng được bổ nhiệm làm tổng giám đốc công ty, do anh Tuyến xin nghỉ hưu sớm để trị bệnh. Đây là quyết định khách quan của tập thể chứ tôi không can thiệp gì. Thực tế qua đề xuất tập thể và tôi cũng đã đề xuất nhiều người trẻ vào các vị trí quan trọng để trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo chứ không ưu ái con mình. Ngay từ đầu, tôi đã không đồng ý đưa các con vào vị trí lãnh đạo.

“Mình gạt nhưng tập thể tín nhiệm nên cũng mừng”

. Phải chăng ông sợ rằng mình ưu ái hay ngại dư luận cho rằng “con quan thì lại làm quan”?

+ Tôi nói thật, thâm tâm không muốn khi tôi làm lãnh đạo thì con mình được bổ nhiệm ở các vị trí chủ chốt nên tôi kiên quyết gạt ngay khi anh em làm quy trình. Nhưng mình gạt thì gạt mà tập thể ở đó quyết, tín nhiệm thì tôi cũng thấy mừng là vì tập thể tin tưởng vào năng lực của con tôi nên mới đề xuất chứ không hẳn tôi đang là bí thư tỉnh ủy mà tập thể nể nang, đưa con tôi vào các vị trí lãnh đạo để bầu.

Trong tỉnh có nhiều trường hợp không phải con của lãnh đạo tỉnh vẫn đang công tác ở nhiều vị trí chủ chốt… Nói chung mọi quyết định là do tập thể chứ tôi ngại mang tiếng là con bí thư mới được bổ nhiệm vị trí chủ chốt.

. Khi xảy ra việc xì xầm trong dư luận, ông nói gì với hai con của ông?

+ Thực tế hiện nay các con tôi đều làm tốt công tác của mình nên tôi dù có hơi buồn khi dư luận xầm xì nhưng thôi để tập thể tỉnh ủy sẽ giải đáp các thắc mắc của dư luận. Tôi nói hai con tôi cứ bình thản làm việc nếu mình làm việc đúng với lương tâm, năng lực. Hai đứa có buồn nhưng tôi nói cứ làm tốt công việc mà tổ chức đã tín nhiệm giao phó. Còn dư luận thì làm sao tránh hết được, việc đó tỉnh ủy tập thể sẽ giải quyết.

. Xin cám ơn ông.

NGUYỄN ĐỨC thực hiện

“Nhiều việc bị lấy cớ là ‘nhạy cảm’ để không minh bạch thông tin”

Vũ Ngọc Hoàng
Vietnamnet

“Ở Việt Nam còn rất nhiều việc chưa được minh bạch, kể cả việc nhỏ và việc lớn, kể cả những chủ trương, quyết định và những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai lầm. Nhiều việc được cho là “nhạy cảm” để lấy cớ đó  không minh bạch thông tin.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu Phần 2 bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở – quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Trong phần 1, tôi đã nói về lý do phải kiểm soát quyền lực. Trong phần 2 này, tôi xin góp bàn về quyền lực cần được kiểm soát như thế nào, bằng cách nào?
Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Tham nhũng, Lợi ích nhóm, Tự do ngôn luận, Con ông cháu cha, Tam quyền phân lập
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Nhật Minh/ Vnexpress
Trước tiên phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm quyền lực tối cao thuộc về nhân dân. Lời ấy không phải là hô khẩu hiệu, mà phải được thấm sâu trong hệ thống chính trị và trong cộng đồng nhân dân. Mọi người phải ý thức rõ ràng và đầy đủ về quan điểm ấy, thường xuyên thể hiện bằng hành động thực tế.
Bảo đảm việc lập hiến là của toàn dân (thông qua cử tri toàn quốc), nhân dân phải trực tiếp quyết định những vấn đề cơ bản của Hiến pháp (chứ không phải là nhân dân góp ý để Quốc hội xem xét). Phải trưng cầu dân ý đối với những vấn đề quan trọng của đất nước. Tiến tới Chủ tịch nước phải do nhân dân trực tiếp bầu (chứ không phải Quốc hội).
Kiểm soát bằng chính quyền lực Nhà nước
Tiếp theo, quyền lực phải được kiểm soát bằng chính quyền lực Nhà nước, quy định trong Hiến pháp và các luật liên quan về cơ cấu và chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước, trong đó có sự phân quyền giữa ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, các nhánh ấy độc lập tương đối với nhau, giám sát chéo và điều chỉnh lẫn nhau, nhằm hạn chế sai lầm, hoặc khi có sai lầm thì được phát hiện và điều chỉnh, khắc phục sớm nhất.
Nói chung, các nhà nước phong kiến chưa giải quyết được việc kiểm soát quyền lực, mặc dù có lúc đã có một số quy định tiến bộ, manh nha của kiểm soát quyền lực. Luật lệ của triều đình có những quy định cấm các quan không được làm.
Một số triều đại đã từng có các quan ngự sử ghi chép trung thực, khách quan mọi việc liên quan đến các quyết định và ứng xử của nhà vua, của triều đình để lịch sử đánh giá, phán xét công, tội. Vua cũng không được kiểm duyệt các ghi chép này. Có các gián quan để can gián vua không làm việc sai; có trống để thần dân kêu oan; có “quan tòa” liêm chính để phán xử đúng sai…
Tuy nhiên, về cơ bản vẫn chưa giải quyết được vấn đề kiểm soát quyền lực. Nguyên nhân là do quyền lực tập trung vào tay vua và hoàng tộc, vua bảo chết thì phải chết, ý vua là ý trời, ý vua là pháp luật, còn nhân dân chỉ là đối tượng bị cai trị, không có quyền tự do, kể cả quyền sống, trái ý vua thì tùy theo mức độ và sự nóng giận của vua mà bị trị tội, kể cả tru di tam tộc.
Thời kỳ đầu của chế độ tư bản cũng vậy, quyền lực tập trung vào tay những người giàu có và cũng không được kiểm soát. Khi chế độ tư bản phát triển đến một mức độ nhất định, đáng kể, có những bước tiến quan trọng về dân chủ xã hội, cộng với sự phát triển của các hệ tư tưởng, nhất là lĩnh vực triết học, làm thay đổi nhận thức và tư duy chính trị, thì quyền lực mới được kiểm soát đáng kể, và ngày nay vẫn đang phải tiếp tục hoàn thiện.
Phương pháp tiếp cận của nước ta lâu nay đối với vấn đề này chưa phải đã tốt, quyền lực nhìn chung chưa được kiểm soát chặt chẽ, thậm chí không ít trường hợp hầu như không có kiểm soát, và trên thực tế, việc lạm dụng quyền lực đã rất nhiều. Chính nó đã tạo nên sự tha hóa đến độ rất phức tạp.
Gần đây Tổng Bí thư nói nhiều lần về việc kiểm soát quyền lực. Chúng ta có thể không dùng cụm từ “Tam quyền phân lập”, không tiếp thu theo kiểu bê nguyên, rập khuôn máy móc mô hình này của các nước phương Tây, vì mỗi quốc gia có đặc điểm văn hóa và ở giai đoạn phát triển khác nhau. Nhưng riêng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong đó thì rất nên nghiên cứu một cách thật nghiêm túc.
Đồng thời với việc phân quyền một cách khoa học giữa ba nhánh nói trên, còn có sự phân công và kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận trong cùng một nhánh, nhất là hành pháp và tư pháp.
Thật sự tạo điều kiện để nhân dân hạnh phúc
Tiếp theo, kiểm soát quyền lực thông qua việc thực thi rộng rãi quyền dân chủ; kể cả hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thông qua chế độ tranh cử, đề bạt và miễn nhiệm cán bộ; minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân được giao quyền lực; sự giám sát của công luận, của nhân dân; tự do tư tưởng và tự do ngôn luận để thể hiện chính kiến của những con người tham gia làm chủ đất nước.
Trong đó, cần phát huy tốt vai trò của xã hội dân sự lành mạnh. Ở đây, cần hiểu cho đúng xã hội dân sự với tư cách là các tổ chức và phong trào lành mạnh, hợp pháp, do nhân dân tự giác và tự nguyện lập ra. Nó không phải là một hình thái kinh tế – xã hội nào mà là một bộ phận hợp thành của xã hội hiện tại; không phải là tổ chức của nhà nước mà ngân sách phải cấp kinh phí và cũng không phải là đơn vị kinh tế hoạt động vì mục đích lợi nhuận.
Các tổ chức này ra đời và tồn tại nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng xã hội; nó là phương thức rất quan trọng để thực thi quyền dân chủ của nhân dân. Nó đã từng tồn tại và đang tồn tại trong xã hội Việt Nam truyền thống trước đây và trong xã hội Việt Nam hiện tại, tất nhiên là chưa hoàn chỉnh, chưa hiện đại.
Nhân dân có quyền chất vấn, yêu cầu cơ quan nhà nước phải giải trình; có quyền phản đối những việc làm mà nhân dân cho là sai trái; có quyền yêu cầu cán bộ từ chức hoặc bị cách chức… Các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm lắng nghe, điều tra xác minh, tiếp thu, trả lời, giải trình, không được ngăn cản cấm đoán nhân dân thể hiện chính kiến một cách ôn hòa.
Phải khuyến khích công luận lên tiếng phê phán, phản đối những việc sai trái (kể cả của lãnh đạo) để tăng sức đề kháng của cơ thể xã hội. Ở đâu và khi nào mà công luận bị hạn chế, ngăn cản thì ở đó và lúc ấy cơ thể xã hội đang giảm sức đề kháng (đến một lúc bệnh nặng dần, trở thành liệt kháng – đó chính là căn bệnh HIV chết người).
Trong một xã hội tiến bộ, việc minh bạch thông tin có vị trí rất quan trọng, mọi người dân đều có quyền tiếp cận thông tin, không ai được bưng bít thông tin, giống như “ánh sáng ban ngày” thay cho “đêm tối”, để cái xấu, cái ác không còn nơi ẩn nấp, phải lộ rõ nguyên hình. Lâu nay ở Việt Nam ta còn rất nhiều việc chưa được minh bạch, kể cả việc nhỏ và việc lớn, kể cả những chủ trương, quyết định và những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai lầm.
Chính sự không minh bạch này đã làm cho nhân dân nghi ngờ, mất lòng tin. Nghi ngờ dung túng, bao che, cùng “lợi ích nhóm”. Nhiều việc được cho là “nhạy cảm” để lấy cớ đó mà không minh bạch thông tin. Chính việc không minh bạch ấy đã làm hạn chế hiệu quả của cuộc chiến chống tham nhũng và “lợi ích nhóm”, nếu như không muốn nói rằng nó cản trở các công việc ấy.
Một nhà nước của dân, cớ sao không báo cáo đầy đủ cho nhân dân biết? Nếu lãnh đạo không có ai dính dáng gì tiêu cực trong đó thì tại sao lại sợ minh bạch? Muốn minh bạch thông tin thì lãnh đạo Đảng và Nhà nước phải mở rộng hành lang hơn nữa cho tự do ngôn luận và báo chí, còn bản thân báo chí cũng phải dũng cảm, bản lĩnh và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, nhà báo dám dấn thân cho lẽ phải và không để bị mua chuộc.
Cũng có ý kiến lo ngại rằng, khi minh bạch thông tin về các vụ việc thì nhân dân sẽ mất lòng tin hơn nữa. Tôi không nghĩ như vậy? Không minh bạch mới làm mất lòng tin. Ai cũng có quyền nghi ngờ cả. Và người lãnh đạo tốt cũng mang tiếng lây. Không dám minh bạch vì sợ mất lòng tin thì đó là thứ lòng tin bị đánh lừa, lòng tin nhầm lẫn.
Văn học nghệ thuật cũng cần phải tích cực tham gia “trừ gian” để góp phần “tải đạo” theo các giá trị nhân bản và phương pháp nghệ thuật phù hợp. Để thực thi dân chủ, việc đầu tiên là thật sự tạo điều kiện cho nhân dân được mở miệng. Đó là cách nói mộc mạc dễ hiểu nhưng là chân lý của Hồ Chí Minh.
Nhà nước rất cần nghiên cứu chỉnh sửa các điều luật về tội “Tuyên truyền chống nhà nước” để cho nhân dân với tư cách là “ông chủ” được tự do phê bình đối với bộ máy và cán bộ phục vụ nhân dân, không để cho “đầy tớ” lợi dụng những quy định chưa chặt chẽ mà quy chụp, tống giam “ông chủ”, làm thay đổi bản chất của nhà nước nhân dân. Tất nhiên đồng thời phải chống loạn ngôn, chống vu cáo và xúc phạm các cá nhân và tổ chức, vi phạm tự do của người khác, kể cả nhân dân và người lãnh đạo.
Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Tham nhũng, Lợi ích nhóm, Tự do ngôn luận, Con ông cháu cha, Tam quyền phân lập
Còn rất nhiều việc chưa được minh bạch, kể cả những chủ trương, quyết định và những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai lầm. Ảnh minh họa
Lãnh đạo chủ chốt phải qua tranh cử
Công tác cán bộ lâu nay, bên cạnh những mặt làm được, nhìn chung trong hệ thống chính trị chưa tuyển chọn và sử dụng được nhân tài. Lịch sử nước ta đã nhiều lần lặp đi lặp lại như vậy.
Trong chiến tranh, với sức mạnh thiêng liêng của hồn nước, nhân tài tụ về dưới cờ khởi nghĩa để chiến đấu vì mẹ hiền Tổ quốc. Đến khi hòa bình thì nhân tài, trung thần thưa vắng dần, còn nịnh thần thì chui vào ngày càng nhiều trong triều chính, dẫn đến tha hóa quyền lực và sụp đổ.
Cách làm công tác cán bộ chủ yếu là sắp đặt theo ý chí và cách tư duy còn nhiều chủ quan của người lãnh đạo. Không ít trường hợp sắp xếp cán bộ theo quan hệ, hậu duệ, “lợi ích nhóm”; bị đồng tiền chi phối, thậm chí đồng tiền đã quyết định trong nhiều trường hợp; đề bạt con cháu, đồ đệ và những người ăn cánh.
Từ xưa tới nay, chế độ và triều đại nào cũng vậy, nạn mua bán chức quan là một trong các biểu hiện tha hóa quyền lực nguy hại nhất. Ở Việt Nam, nhiều năm rồi, cụm từ “buôn quan”, “buôn vua” đã xuất hiện, tồn tại và lan truyền. Ngôn ngữ không ngẫu nhiên mà có. Nó ra đời để phản ánh một thực trạng trong đời sống chính trị – xã hội.
Đến nay nạn chạy chức, chạy quyền đã trở nên khá phổ biến, có những trường hợp cứ như là đương nhiên, rất đáng lo ngại, kể cả ở những lĩnh vực hệ trọng. Công tác cán bộ chưa có được một cơ chế khoa học để tuyển chọn và sử dụng được nhân tài, tư tưởng phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề và những năm gần đây lại cộng với mặt trái của cơ chế thị trường và sự tha hóa quyền lực.
Cần đổi mới mạnh mẽ và căn bản công tác cán bộ theo hướng cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải qua tranh cử trong môi trường thật sự tôn trọng ứng cử tự do và đề cử của các tổ chức chính trị – xã hội; chọn cán bộ chuyên môn phải qua thi tuyển, thực chất và nghiêm túc, khách quan, vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ.
Đó cũng là cách để nhân dân và đông đảo cán bộ tham gia giám sát quyền lực trong việc giao quyền lực cho cán bộ. Nâng cao chất lượng của đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp lựa chọn những người có năng lực và bản lĩnh làm đại biểu chân chính và xứng đáng của nhân dân, dám nói tiếng nói trung trực đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhân dân.
Khi các đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đã được nhân dân bầu chọn thì phải toàn tâm toàn ý, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, lắng nghe nhân dân, nói tiếng nói của nhân dân, biểu quyết vì nhân dân. Tiến tới công khai cho nhân dân biết các đại biểu ấy biểu quyết thế nào đối với những công việc mà nhân dân bức xúc quan tâm, để giám sát sự trung thành với dân.
Tổ chức Đảng phải làm nòng cốt kiểm soát quyền lực
Nếu các đại biểu ấy là đảng viên thì càng phải gương mẫu thức hiện ý dân, coi lòng dân là sơ sở quan trọng nhất để hành động – đó là nguyên tắc cao nhất. Tổ chức Đảng đã giao cho đảng viên nhiệm vụ làm đại biểu chân chính của nhân dân, đảng viên cứ thế mà hành động; tổ chức Đảng không cầm tay chỉ việc, không yêu cầu đảng viên phải biểu quyết và phát ngôn cụ thể theo ý kiến cấp ủy.
Trung thành với nguyện vọng của dân, nói tiếng nói của dân – đó chính là nhân cách và ý thức đảng viên chân chính. Đảng vì nhân dân mà hành động chứ không vì cái gì khác, không để cho “nhóm lợi ích” chi phối và thao túng.
Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng lâu nay không ít trường hợp đã sử dụng biện pháp hành chính và quyền lực, thậm chí đã trở thành cơ quan quyền lực cao nhất trên thực chất, và cũng chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực.
Với cách này, nếu kéo dài thì tổ chức Đảng sẽ bị quyền lực làm tha hóa, vừa hỏng công việc lãnh đạo đất nước, vừa hỏng bản thân tổ chức Đảng. Cần đổi mới một cách căn bản nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng Đảng không làm thay, không chồng chéo với công việc Nhà nước, nhất là việc sử dụng quyền lực, mà chuyển mạnh sang lãnh đạo chủ yếu bằng các giá trị văn hóa, từ chủ trương hợp lòng dân đến noi gương và thuyết phục, không áp đặt một chiều bằng biện pháp tổ chức, hành chính và quyền lực.
Đảng phải đại diện chân chính và xứng đáng nhất cho ngọn cờ dân chủ; phát hiện và chọn lựa cho được các hiền tài để giới thiệu với nhân dân. Đó cũng là cách làm truyền thống mà trước đây, trong điều kiện chưa cầm quyền, Đảng đã từng sử dụng để trở thành một Đảng lãnh đạo của nhân dân.
Bản thân trong tổ chức của Đảng cũng cần phải có cơ quan do đại hội cử ra để giám sát cán bộ lãnh đạo về nhân cách và việc sử dụng quyền lực. Tổ chức Đảng không đứng lệch về phía quyền lực và sử dụng quyền lực nhà nước, mà nghiêng về phía nhân dân, tập trung lãnh đạo và làm nòng cốt trong kiểm soát quyền lực, thực hành dân chủ rộng rãi và phát huy vai trò các tổ chức của xã hội dân sự lành mạnh để tham gia xây dựng, bảo đảm cho nhà nước thật sự là nhà nước của nhân dân – là mục tiêu xây dựng nhà nước mà Đảng nói lâu nay.
Vũ Ngọc Hoàng
*Tiêu đề, các tiêu đề phụ của bài viết do Tuần Việt Nam đặt.

——————-

* Tựa đề do VNTB đặt

ĐỪNG LỪA DÂN BẰNG LÁ BÀI CHỐNG TRUNG QUỐC

FB Huy Đức

22-9-2016

Không còn hiểu nổi tờ TB KTSG. Trong cùng một số báo, 22-9-2016, họ phản đối giải cứu Đạm Ninh Bình và Hà Bắc (thua lỗ đau đớn vì sử dụng công nghệ và vốn, nhà thầu Trung Quốc), đòi Chính phủ phải tuân thủ kinh tế thị trường; đồng thời gần như dọa nếu không cứu Hoàng Anh Gia Lai (HAG) thì doanh nghiệp này sẽ “bán 20.000 héc ta cao su cho một số đối tác Trung Quốc lấy 8.000 tỉ đồng trả nợ”.

Phần đất cao su này thuộc Lào và Campuchia, sát Biên giới VN. Bài báo cảnh báo nếu để Trung Quốc mua thì họ sẽ mang lao động người Trung Quốc tới sát nách Việt Nam. Họ mang công nhân tới CPC thì đã sao, chúng ta không có lực lượng quân đội để giữ biên cương hay sao.

Chính những kẻ từng rước Trung Quốc vào tràn ngập lãnh thổ Việt Nam ngay sau đó đã dùng chiêu bài “chống Trung Quốc” để trục lợi. Chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc đã từng được sử dụng từ nhiệm kỳ trước để “giải cứu” một doanh nghiệp tư nhân đang ở bên bờ phá sản.

TB KTSG hãy làm báo kinh tế đừng đánh vào tâm lý ghét Trung Quốc của người dân để lấy tiền dân cứu những doanh nghiệp đầu tư liều lĩnh.

_____

TBKTSG

22-9-2016

Hoàng Anh Gia Lai dự định sẽ bán 20.000 héc ta cao su cho một số đối tác Trung Quốc lấy 8.000 tỉ đồng trả nợ. Ảnh: MINH KHUÊ

Thị giá cổ phiếu của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAG-Hose) ngày 16-9-2016 còn 4.930 đồng. Với vốn điều lệ 7.900 tỉ đồng, giá trị vốn hóa của HAG là 3.895 tỉ đồng, tương đương 175 triệu đô la Mỹ. Theo báo cáo tài chính hợp nhất bán niên 2016 đã soát xét, nợ ngắn hạn của tập đoàn 12.343 tỉ đồng, nợ dài hạn 14.340 tỉ đồng, tổng nợ 26.683 tỉ đồng.

Loay hoay chủ nợ

Vì sao các ngân hàng lại đổ nhiều tiền đến thế tài trợ cho HAG? Vì vào thời điểm các năm 2011-2012, khi HAG chuyển mạnh sang làm nông nghiệp, giá cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới cao gấp 4 lần hiện nay. Ngoài BIDV, vốn là ngân hàng cho HAG vay trong nhiều năm, lúc bấy giờ một nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần bao gồm ACB, Eximbank, Sacombank, Techcombank và sau này thêm cả HDBank, VPBank đã tính toán với giá thành sản xuất khoảng 1.200-1.300 đô la Mỹ/tấn mủ cao su đã chế biến, HAG không bao giờ có thể lỗ. Nói cách khác, rủi ro thu hồi vốn và lãi của các chủ nợ ở mức rất thấp. Tuy nhiên không ai ngờ giá cao su rớt thảm hại và đứng ở vùng đáy lâu đến vậy.

Đầu tư cho cây cao su đòi hỏi dài hơi. Chu kỳ biến động của giá cao su cũng dài hơi, có thể kéo dài tới cả thập kỷ. Sai lầm chứa đựng cả yếu tố khách quan và chủ quan của HAG và các chủ nợ chính là sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn. Giờ phải sửa sai lầm đó.

Tái cơ cấu nợ là bài toán cần phải giải càng sớm càng tốt của HAG. Lẽ ra bài toán này phải giải từ năm ngoái, thậm chí năm kia, nhưng các chủ nợ có ý chờ ý kiến của các cơ quan chức năng có thẩm quyền đối với ngân hàng. Nay nước đã đến chân, các chủ nợ vẫn loay hoay tìm lời giải. Tuần trước, trong cuộc họp đại hội đồng cổ đông thường niên năm nay, HAG chủ động lên tiếng: họ sẽ bán 20.000 héc ta cao su cho một số đối tác Trung Quốc lấy 8.000 tỉ đồng trả nợ. Ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch Hội đồng quản trị HAG, nhấn mạnh bán diện tích trên, tập đoàn vẫn còn khoảng 60.000 héc ta nữa (kể cả ở Campuchia, Lào, Việt Nam). Nói cách khác, nếu bán tất cả diện tích cao su đang sở hữu, HAG có thể trả hết nợ, không tính tới khu phức hợp 8 héc ta đang khai thác ở Myanmar.

“Chúng tôi bán thật!”

Liệu HAG có thể bán hết vườn cây cao su? Ông Đức nói với cổ đông “bán là bán thật”. Câu trả lời là có. Từ ba, bốn năm trước, không ít đối tác cả trong và ngoài nước đã dạm hỏi khả năng bán vườn cao su của tập đoàn, nhưng HAG khi đó kiên quyết không bán. Đại diện một công ty chứng khoán năm trước cho biết họ có một khách hàng tổ chức nước ngoài sẵn sàng mua 30.000 héc ta cao su của HAG, nhưng bên bán lắc đầu.

HAG đã đổ nhiều tiền cho cao su, trồng cũng như chăm sóc loại cây này một cách bài bản. Hệ thống tưới nước, bón phân, phân tích lá cao su để “khám” sức khỏe cho cây mà HAG áp dụng đều theo công nghệ của Israel. Tập đoàn đã thuê chuyên gia Israel khảo sát từng nơi đặt vị trí hồ chứa nước để đảm bảo nước có thể có ngay trong cả mùa khô. Ngay cả hiện tại, khi khó khăn về dòng tiền, việc chăm sóc cho cao su vẫn được đặt lên hàng đầu.

HAG đã không bán vườn cao su, đặc biệt ở Lào, vì vị trí chiến lược của vùng đất ở đây sát với biên giới Việt Nam. Từ vườn cao su của HAG nhìn sang địa phận tỉnh Kontum rất gần. Do nhân công ở Lào không đủ, HAG có thời điểm đã tuyển dụng hàng ngàn công nhân Việt Nam và đưa sang làm việc ở Lào. Nếu tới đây một số đối tác Trung Quốc mua diện tích cao su của HAG, ai có thể đảm bảo họ không đưa công nhân Trung Quốc sang làm việc thay cho nhân công Việt?

Nhìn vào báo cáo tài chính bán niên, thấy rất rõ chi phí lãi vay mà HAG đã trả trong sáu tháng đầu năm tăng vọt lên 798 tỉ đồng từ mức 459 tỉ đồng cùng kỳ năm ngoái. Khấu hao tài sản cố định cũng tăng gần gấp đôi, từ 159 tỉ đồng lên 314 tỉ đồng, trong khi doanh thu tăng chưa đầy 20%, từ 3.036 tỉ đồng lên 3.659 tỉ đồng, chủ yếu từ mảng nuôi bò, trồng mía, bắp, dầu cọ… Điều này cho thấy sự phụ thuộc vào cao su của tập đoàn vô cùng lớn. HAG hiện hầu như không khai thác cao su dù hàng ngàn héc ta đã có thể cạo mủ vì khai thác là lỗ.

Ông Đoàn Nguyên Đức đã xác nhận HAG đang thương lượng bán mảng mía đường cho tập đoàn Thành Thành Công nên trong kế hoạch doanh thu, lợi nhuận sáu tháng cuối năm nay không có con số cho mía đường.

Tương lai của HAG giờ có thể hai ngả: bán dần tài sản trả nợ ngân hàng hoặc được tái cơ cấu nợ để tiếp tục sống chết với cao su. Tổng tài sản của tập đoàn đến ngày 30-6-2016, theo báo cáo tài chính, là 51.106 tỉ đồng, gần gấp đôi tổng nợ. Nếu bán cho đến khi trả xong nợ, HAG còn lại gì, chưa thể biết, nhưng cái rõ trước mắt là đối tác Trung Quốc sẽ trở thành chủ sở hữu vườn cao su hàng chục ngàn héc ta ngay cạnh biên giới Việt Nam. Đấy không còn là câu chuyện của một doanh nghiệp, mà là vấn đề của quốc gia. Các cơ quan chức năng có thẩm quyền hẳn thấu hiểu cốt lõi việc bán hay không bán vườn cao su của HAG hơn ai hết. Đáng lẽ khi HAG “tự bơi” đầu tư sang Lào, Campuchia với quy mô tầm cỡ như vậy, phía sau nên chăng là sự điều tiết và kiểm soát của Nhà nước dưới những hình thức khác nhau bắt buộc phải có?

Xem thêm: Hoàng Anh Gia Lai bán, Thành Thành Công mua

Sau trò ‘đổi cột’ đến trò ‘ú tim’ giữa triều đình

Blog VOA

Bùi Tín

21-9-2016

Các đại biểu tham dự phiên khai mạc kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XIII ở Việt Nam. Ảnh tư liệu - EPA

Ai bảo là triều đình cộng sản ở Hà Nội nhàm chán. Biết bao ảnh các phóng viên trong và ngoài nước chụp các ông bà nghị, các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị và Ban chấp hành TƯ… hàng chục người cùng lim dim đôi mắt, có khi như ngủ say, lại có khi còn như ngáy khò khò giữa các phiên họp đang sôi nổi. Cảnh hồn nhiên sinh động hiếm thấy nơi khác.

Vì về Hội trường Ba Đình họp có nghĩa là ăn ngon, tẩm bổ đầy, bia rượu kín đáo mà tràn đầy, còn đủ loại du hý giữa thủ đô, đêm ngắn cẳng dài, ngủ say ban ngày là phải lẽ. Có những buổi bỏ phiếu quan trọng, vắng đại biểu đến vài chục mống. Cho nên các đại biểu rong chơi nhờ nhau bấm nút bầu giúp mình, và Chủ tịch luôn nhắc nhở quý vị đi họp đúng giờ, tỉnh táo, chớ có vắng mặt tùy tiện, chớ có ngủ gật, vào ảnh khó coi.

Cuối năm 2015 bộ máy Nhà nước cộng sản còn chơi trò “Đổi cột” rất ly kỳ, ngoạn mục, vui ra phết. Ba vị trí Chủ tịch Nước, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội cũ đều bị thay trước thời hạn, theo trò ‘đổi cột’, thay thế chỗ cho nhau trong Bộ chính trị cũ, không ai được ứng cử ghế Tổng Bí thư vì lẽ quá tuổi quy định (65), chỉ riêng Cụ Tổng Bí thư cao tuổi nhất (72) thì “đành phải” ở lại phục vụ đảng và nhân dân vì không có ai có thể thay, lại còn được bầu số phiếu cao, cao nhất – 100%. Lại trò biểu diễn “chế độ độc quyền đảng trị dân chủ đến thế là cùng!”

Đầu năm 2016, sau khi bầu Tứ trụ mới vài chục ngày, lại giở trò bầu tứ trụ mới nữa, gọi là mới, nhưng vẫn y như cũ. Một màn kịch, một trò hề chính trị không thấy ở đâu. Vẫn là 4 ông bà ôm 4 cột cũ. Vũ Như Cẫn, Vẫn Như Cũ, không sai một ly, quanh Cụ Tiên chỉ các năm trước, đầu bạc trắng, mắt mờ, đi đứng không còn vững, lên xuống xe phải có kẻ hầu dìu nách cho khỏi ngã.

Trò chơi ‘đổi cột’ mới mà không thay người giữa triều đình chưa hết phần trào lộng thì lại xảy ra chuyện muôn thuở là lời hứa trịnh trọng ra tay chống tham nhũng, chống đàn sâu bọ sinh sôi nảy nở thành bầy đàn dày đặc các phe nhóm bất trị, lại ngay giữa lúc sôi sục chuyện môi trường Formosa Plastics Hà Tĩnh với cuộc thăm viếng đầy ưu ái của ngài Tổng Lú, được biết là được biếu gói quà hậu hỹ và phong bì dày cộp, để quên đi vụ cá tôm chết la liệt.

Ngài Tổng Bí vừa ra lệnh cho các cơ quan chuyên chính gồm có Ban Bí thư TƯ, Ban Kiểm tra TƯ, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Tổng thanh tra Chính phủ nhanh chóng vào cuộc, xử nghiêm các vụ án lớn ở ngành dầu khí và Bộ Công Thương, không bỏ sót và chiếu cố một ai, diệt từ ruồi đến hổ, không để chúng nó thoát, thì đùng một cái, tin chẳng lành, tin giật gân nảy ra, như tiếng sấm giữa trời quang. Nghi can Trịnh Xuân Thanh vừa trúng cử đại biểu Quốc hội, phó Chủ tịch tỉnh lớn Hậu Giang, nguyên Tổng giám đốc một công ty quốc doanh loại lớn nhất, vừa nằm trong danh sách bị điều tra, truy tố bỗng biến mất tăm, không cánh mà bay.

Ông Trịnh Xuân Thanh chơi trò ú tim, thế mới tức cho Cụ Tổng bị trêu ngươi. Ông không có mặt tại nhiệm sở. Không có mặt ở biệt thự riêng ở Hà Nội. Cũng không cho biết đang còn trong nước hay đã ra nước ngoài. Rồi báo là đã ra nước ngoài cùng vợ và 2 con. Nhưng vẫn ú tim, nước ngoài nào? Thế giới mênh mông biển sở, chiếc kim đáy biển. Ông đang ở gần đâu đó, Lào? Thái Lan? Campuchia? Singapore? hay Malaysia? Hay đã sang tận Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Canada? Hay Thụy Sỹ, Malta, thiên đường trốn thuế, rửa tiền? Chịu.

Bộ máy đảng, bộ máy an ninh, tình báo, bộ máy ngoại giao rộng khắp đều mù tịt. Chỉ có anh Gió lang thang Bùi Thanh Hiếu đang lang bạt kỳ hồ mấy năm nay là có thể biết láng máng. Con hổ lớn xổng làm cụ Tổng mất ăn mất ngủ. Uy tín Cụ bị một vố đau điếng. Chia sẻ với Cụ hình như chỉ có mỗi ông Trần Quốc Vượng, Cụ mới đưa vào Bộ Chính trị, với đại chức Trưởng ban Kiểm tra TƯ đảng – vai trò Quan Công của đảng CS, cánh tay phải của Cụ Tổng trong công cuộc diệt ruồi đả hồ đang khởi đầu khá muộn mằn.

Cụ Tổng uất ức lắm đối với những quan chức cao nhất trong bộ máy an ninh, công an, cảnh sát, nội vụ, ngoại giao, tổ chức đảng, bảo vệ đảng, đông đảo là thế, lương cao là thế mà bất lực, ăn hại, không bám đuôi được một can phạm đang bị bệnh Gút nặng, để cho hắn ta cao chạy xa bay, lại còn viết thư công khai vô lễ ‘bất tín nhiệm Tổng Bí thư’. Sao họ mẫn cán cử 70 người bám chặt cô Cấn Thị Thêu, 20 người bám cô Đoan Trang mà lại sơ suất để xổng con hổ Trịnh Xuân Thanh to đùng?

Cụ Tổng còn lo hơn vì Trịnh Xuân Thanh đã liên lạc với anh Buôn Gió chuyên buôn đủ loại tin, từ tin vỉa hè đến tin triều đình, tin nghe hơi nồi chõ đến tin có bằng chứng 100%, có đóng dấu quốc huy, Nhà nước. Anh Gió tuy tự nhận vốn là tay anh chị lang thang từ ngõ hẻm Phất Lộc gần Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội, nay là nhà báo, nhà văn có tài năng và sức hấp dẫn đặc biệt, được ông Thị trưởng Đức Weimar thỉnh mời. Tôi được gặp anh vài lần trên đất Đức và Hà Lan, nhận ngay ra anh một con người chân thực, khiêm cung, nhân đức và thông minh. Tôi rất không đồng tình với nhà bình luận cao ngạo nào đó hoài nghi trình độ và nhân cách của anh. Tôi nghiệm ra rằng có khối kẻ từng sống lây lất vỉa hè, từng trộm cắp vặt có thể trở nên người lương thiện có tâm và có tầm, có ích đáng nể phục.

Trịnh Xuân Thanh đã biết chọn mặt gửi vàng. Tác giả Đại Vệ Chí Dị sẽ biết cách xử lý các tài liệu do Trịnh Xuân Thanh chuyển cho một cách kín đáo, thông minh, có lợi cho cuộc đấu tranh chung chống chế độ độc đảng tàn bạo phi nhân.

Vụ án Trịnh Xuân Thanh sẽ còn cho biết nhiều chuyện cung đình, về quản lý các đại công ty, dự án kinh tế mấu chốt, các phe nhóm lợi ích kình chống nhau.

Rồi chúng ta sẽ thấy mối quan hệ Cụ Tổng với cựu TT Nguyễn Tấn Dũng cùng bộ sậu ra sao, quan hệ giữa Cụ Tổng với Chủ tịch Nước nguyên là Bộ trưởng Công an chẳng mặn mà chút nào, cuộc đấu đá sống mái của Cụ Tổng với nguyên Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng và cậu con trai tại công ty Sabeco cùng với con ông Trịnh Xuân Thanh là Trịnh Hùng Cường tại công ty Halico cũng sẽ cực kỳ phức tạp, chằng chịt những tố cáo lật mặt nhau cho mà xem. Dù các phiên tòa sẽ xử kín thì mọi sự thật sẽ tuôn ra công luận từ nhiều nguồn nhiều ngả.

Bộ mặt lãnh đạo thật sự của đảng CS sẽ hiện nguyên hình là một ổ mafia mới tham quyền cố vị để tàn phá tan tành đất nước này.

Một trò ú tim của đảng CS kéo dài 71 năm đã là quá dài, dân ta hết chịu nổi. Nó ắt phải chấm dứt.

Đại án tham nhũng MobiFone mua AVG: Lê Nam Trà đang lo lót đoàn Thanh tra Chính phủ (kỳ 9)

Đôi lời: Đây là bài thứ 9 trong loạt bài về chuyện “làm ăn” của ông Lê Nam Trà, TGĐ Mobifone, với cô Nguyễn Thanh Phượng, con gái cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Như đã nói từ bài đầu, rất khó để kiểm chứng một số thông tin trong bài, xin được đăng loạt bài này để quý độc giả cùng tham khảo và kiểm chứng. Đăng loạt bài này, không nhằm mục đích ủng hộ phe nào hay chống đối phe nào trong cuộc chiến nội bộ giữa các phe phái của Đảng Cộng sản VN.

_____

Nguyễn Văn Tung

22-9-2016

Triển khai chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư ngày 22/7 và Thủ tướng Chính phủ ngày 1/8, đoàn Thanh tra Chính phủ đã tiến hành công tác thanh tra toàn diện tại Tổng Công ty Viễn thông MobiFone từ ngày 6/9 về vụ việc Tổng Công ty Viễn thông MobiFone mua Đài truyền hình AVG. Tuy nhiên, công tác chuẩn bị thanh tra rất chậm chạp (trong suốt tháng 8) và việc thanh tra hiện nay đang diễn ra mang tính hình thức.

1. Đài truyền hình AVG có giá trị thật khoảng bao nhiêu?

Vốn điều lệ của AVG là 1.800 tỷ đồng. Sau gần 5 năm hoạt động, số thuê bao truyền hình “thật” (thực sự có phát sinh doanh thu) của AVG đang vào khoảng 500 nghìn, chiếm 5% thị phần của thị trường thuê bao truyền hình trả tiền và chủ yếu ở vùng nông thôn. Số lỗ cộng dồn của AVG đang ở mức 1.000 tỷ đồng và công ty này đang vay nợ gần 1.000 tỷ đồng (trong đó MobiFone phải đứng ra bảo lãnh cho AVG vay 800 tỷ). Với tình trạng làm ăn bết bát như vậy, giá trị thực tế của AVG sẽ không quá 2.800 tỷ đồng (tức là bằng tổng tài sản của AVG trên báo cáo tài chính ở thời điểm 31/12/2015).

Để dễ hình dung, ta làm một phép so sánh nhỏ giữa AVG và SCTV. Công ty truyền hình cáp SCTV có tổng số 2,5 triệu thuê bao (gấp 5 lần thuê bao thật của AVG) và có mạng truyền dẫn cáp quang phủ sóng cả nước (AVG chỉ có vài sợi cáp tuyến trục Hà Nội – TP.HCM) mà cũng chỉ đang được định giá khoảng 3.500 tỷ đồng.

Lê Nam Trà đã thông đồng với Phạm Nhật Vũ để MobiFone mua 95% cổ phần AVG với mức giá 8.900 tỷ đồng và chỉ đạo gấp rút chuyển gọn 8.500 tỷ đồng cho Phạm Nhật Vũ trong 5 tháng đầu năm 2016. Dễ dàng tính ra, Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ và một số cá nhân đã thông đồng, bòn rút 5.700 tỷ đồng của Nhà nước. Mới đây, Phạm Nhật Vũ đã khai nhận với Tổ chuyên án đặc biệt của Tổng Bí thư rằng Vũ chỉ được giữ lại khoảng 2.800 tỷ đồng, phần còn lại thì Vũ bị ép chia cho một số cá nhân khác.

Dấu hiệu “cố ý làm trái, gây hậu quả nghiêm trọng” của Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ, Phạm Đình Trọng và một số cá nhân khác đã rất rõ ràng!

2. Việc thanh tra toàn diện MobiFone mua đài AVG cần tập trung vào những điểm nào?

Đề nghị Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Thanh tra Chính phủ, Ủy ban Kiểm tra Trung ương khẩn trương yêu cầu Lê Nam Trà và các cá nhân liên quan giải trình rõ các vấn đề sau:

– Xác định giá trị AVG theo phương pháp “chiết khấu dòng tiền”: Đề nghị giải thích các sở cứ để đưa ra các con số phát triển thuê bao AVG ở mức rất cao trong 10 năm liên tiếp (việc dự báo phát triển thuê bao truyền hình AVG ở mức rất cao trong tương lai sẽ kéo giá trị của AVG lên mức rất cao so với thực tế). Để kiểm chứng, đề nghị so sánh giữa kết quả phát triển thuê bao, doanh thu truyền hình (kết quả thực tế) trong 8 tháng đầu năm của MobiFone so với mức dự báo phát triển thuê bao, doanh thu năm 1 trong kế hoạch kinh doanh của vụ mua bán AVG.

– Xác định giá trị AVG theo phương pháp “giá trị tài sản ròng”: Lê Nam Trà đang giải trình rằng giá trị thương hiệu AVG cao, nhưng hiện AVG chỉ chiếm 5% thị phần và hầu như không ai biết đến AVG (trong khi tên tuổi của VTV Cab, SCTV lại rộng khắp cả nước). Nếu MobiFone nói giá trị thương hiệu AVG cao thì tại sao MobiFone lại vội vã xóa thương hiệu AVG và đổi tên thương hiệu thành MobiTV từ ngày 1/7? Hai băng tần 700 MHz của AVG là tài nguyên quốc gia nên không thể mang ra định giá, hai băng tần 700 MHz này sẽ phải trả lại cho Bộ Thông tin Truyền thông vào cuối năm 2017 để đấu giá và cấp lại cho các doanh nghiệp viễn thông theo quy trình công khai và minh bạch.

– Về quy trình thủ tục MobiFone mua AVG: Lê Nam Trà không thể vin vào lý do “bí mật an ninh quốc gia” để MobiFone và Bộ Thông tin Truyền thông không trình Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Tài chính có ý kiến thẩm định về giá mua AVG trước khi trình Thủ tướng Dũng phê duyệt giá trị giao dịch. Lý do Trà đưa ra là: Bộ Công An có “kênh truyền hình an ninh nhân dân/ANTV” phát trên AVG nên Trà vin vào đó để nói vụ mua bán là “bí mật an ninh quốc gia” và đóng dấu “mật” vào hồ sơ vụ mua bán AVG. Lý do thật của ekip là muốn che đậy việc MobiFone mua bán bất minh AVG và làm thất thoát một số tiền lớn của Nhà nước vào túi cá nhân. Cần lưu ý là kênh ANTV phát sóng không chỉ trên AVG, mà còn trên VCTV, VTC, myTV, truyền hình cáp TP.HCM. Về nguyên tắc, việc MobiFone mua AVG thì MobiFone phải lập dự án nhóm A và trình Bộ Thông tin Truyền thông, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính thẩm định trước khi trình Thủ tướng Dũng phê duyệt.

– Xác định hiệu quả thực của AVG sau 8 tháng trực thuộc MobiFone: Nếu tách bạch các khoản bù chéo (tăng 10% đến 15% doanh thu các dịch vụ giá trị gia tăng: game, nhạc….so với mức thông thường và doanh thu quảng cáo mà Mobifone “đổ” sang AVG, các khoản chi phí bán hàng và kênh phân phối mà cả bộ máy MobiFone đang gồng mình “gánh” cho AVG) thì mức lỗ thực từ truyền hình của AVG trong 8 tháng đầu năm 2016 chắc chắn không thấp hơn 200 tỷ đồng (chứ không phải là “AVG đã có lãi 6 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm” như Lê Nam Trà đã mạnh mồm tuyên bố vào đầu tháng 8). Vậy thì việc MobiFone mua đài AVG có thực sự hiệu quả hay không? Những ai sẽ phải chịu trách nhiệm khi chuyển hàng trăm tỷ lợi nhuận của MobiFone (tức là tiền Nhà nước) sang AVG để cứu AVG trong 8 tháng qua?

3. Lê Nam Trà đang gấp gáp lo lót vụ thanh tra như thế nào?

Theo nguồn tin từ Tổng Cục 5, Lê Nam Trà và các đàn em đang huy động số tiền tương đương 10 triệu USD để mua Phó Tổng Thanh tra, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư và các thành viên trong Đoàn thanh tra. Trong và sau giai đoạn thanh tra 50 ngày (đến cuối tháng 10/2016), gần như chắc chắn Đoàn Thanh tra và Bộ Kế hoạch Đầu tư sẽ không đề xuất “chuyển sang cơ quan điều tra khi phát hiện sai phạm” (như Thường trực Ban bí thư Đinh Thế Huynh và Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình mong muốn) mà sẽ phối hợp “tung hứng”, đưa ra những kiến nghị chung chung kiểu như: đúng quy trình, cần làm rõ thêm… nhằm kéo dài thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Thời gian đó đủ để Lê Nam Trà, Phạm Nhật Vũ tiếp tục chạy vạy cho vụ việc chìm xuồng, cho “con voi chui qua lỗ kim”.

Với việc sử dụng 60% số vốn điều lệ của MobiFone để mua đống tài sản đổ nát AVG, rút tiền bỏ túi một vài cá nhân, bắt cả bộ máy MobiFone phải gánh việc chạy doanh thu truyền hình AVG, Lê Nam Trà có tội lớn với các thế hệ cán bộ, nhân viên MobiFone cũng như Nhà nước. Vụ tham nhũng MobiFone mua AVG chắc chắn sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp của MobiFone khoảng 2 tỷ USD khi MobiFone được định giá lại để cổ phần hóa vào đầu năm 2017.

Sau 10 năm dưới triều đại Nguyễn Tấn Dũng, đất nước ta ở hoàn cảnh “trẻ khinh già, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt” nhưng đất nước vẫn có hồng phúc lớn khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ở vị trí giường cột. Gần đây, Tổng Bí thư đã nổ phát súng lệnh tuyên chiến chống tham nhũng với hai vụ án điểm Trịnh Xuân Thanh/PVC (cố ý làm trái, gây thua lỗ) và MobiFone/AVG (cố ý làm trái, tham ô) làm nức lòng nhân dân cả nước.

Toàn Đảng, toàn dân đang vô cùng phấn chấn khi Tổng Bí thư đã tham gia Đảng ủy Công an Trung ương vào ngày 21-9 (sau khi một vài “ông anh” ở Bộ Công An cố tình lơi lỏng để Trịnh Xuân Thanh trốn thoát ra nước ngoài) để trực tiếp chỉ đạo quyết liệt chiến dịch chống tham nhũng ngay ở cấp Bộ Công An.

Hơn lúc nào hết, toàn dân đang mong đợi Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ sẽ quyết định khởi tố vụ tham nhũng MobiFone/AVG trong tháng 10 cũng như yêu cầu Phạm Nhật Vũ phải hoàn trả số tiền 8.500 tỷ đồng cho MobiFone và Ngân sách Quốc gia.

_____

Mời xem lại: Kỳ 1: Lê Nam Trà – Tay trong con gái Thủ tướng phá hoại 20 năm phát triển bền vững của MobifoneKỳ 2: Lê Nam Trà và đại án tham nhũng ở MobifoneKỳ 3: Sau AVG, Lê Nam Trà và Nguyễn Thanh Phượng đang âm mưu những gì ở Mobifone?  —  Kỳ 4: Mobifone ngang nhiên thách thức các nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ  —  Kỳ 5: Việc thanh tra toàn diện vụ tham nhũng AVG ở Mobifone liệu đã bắt đầu?  —  Kỳ 6: Cuộc điều tra tham nhũng AVG tại Mobifone đã thực sự bắt đầu   —  Kỳ 7: LÊ NAM TRÀ ĐANG PHÙ PHÉP VỤ AVG NHƯ THẾ NÀO?    —    Kỳ 8: Đại án 8.900 tỷ tại Mobifone: hồi chuông đã gióng

Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh: Tôi chấp nhận tất cả, kể cả cái chết cũng không làm tôi phải ân hận

Mai Tú Ân

23-9-2016

Tại tòa án xét xử của chính quyền CSVN, anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi vô tôi. Tôi tự hào vì những gì mình đã làm từ 9 năm qua – 7 năm làm báo và 2 năm đi tù”.

Câu nói của anh giống như câu di ngôn nổi tiếng của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam khi ông uống thuốc độc tự sát vào năm 1963: “Đời tôi để lịch sử xử”. Có thể có sự khiên cưỡng trong hai lời nói, có sự sống chết giữa hai người nhưng tinh thần thì chỉ có một với sự bất khuất của những con người dám sống chết vì lý tưởng.

Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã ung dung tuyên bố trước tòa án của bạo quyền rằng, anh tự hào về 7 năm làm báo và 2 đi tù. Những năm làm báo lề dân của anh thì cũng có thể có nhiều người có thể tự hào, nhưng những năm tháng tù đầy gian nan, trong gông xiềng bạo ngược, trong địa ngục trần gian… mà tuyên bố tự hào thì không có mấy ai đã làm được. Anh mạnh mẽ tuyên bố rằng, anh tự hào về 2 năm ở trong tù đó. Và tuyên bố điều tự hào đó trước tòa án, trong khi thân vẫn đang phải trong cảnh tội tù, khi đường về nhà với gia đình, với vợ, con còn xa lắm…

Và cũng trước phiên tòa bất công đó, anh đã dõng dạc tuyên bố, như một kết luận hiển nhiên rằng: “Tất cả những gì đang diễn ra ngày hôm nay trên đất nước chúng ta đã chứng minh rằng, những việc tôi đã làm và những người đi trước đã làm là đúng đắn”.

Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã kết luận một điều chắc nịch đó như một điểm tựa cuộc đời không bao giờ sai rằng, con đường anh và những người đi trước đã đi là con đường đúng đắn cho dân tộc. Con đường vừa gập ghềnh, diệu vợi vừa gian nan, mịt mù đó là con đường duy nhất mở ra cho những người dấn thân, người đấu tranh cho dân chủ, tự do, cho công bằng xã hội, cho hạnh phúc của người dân. Đó là con đường mà những kẻ sĩ thế kỷ 21 như các tiền nhân, như anh phải mò mẫm đi tiên phong, lại chính là con đường duy nhất đưa dân tộc ta đến với ánh sáng mặt trời. Đó là điều mà có lẽ anh đã ngộ ra từ lâu, từ cái ngày bắt đầu bước vào làng báo lề dân 7 năm về trước đó rồi, và hôm nay trước toà án của lũ đê hèn, anh đã xác quyết lại cho mình con đường đi ấy. Con đường mà dòng máu sôi sục của tổ tiên, của dân tộc và các bậc tiền nhân sáng chói khác đang cuộn chảy trong huyết quản anh và nó réo gọi anh lên đường, réo gọi anh dấn thân để đáp lời sông núi….

Và khúc ca bi tráng mang tên Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh đã tạm đóng lại với tiếng hùng ca dữ dội nhất nhưng cũng chân thành giản dị nhất: “Tôi chấp nhận tất cả, kể cả cái chết cũng không làm tôi phải ân hận”.

Một lời tuyên ngôn hùng mạnh, hay một lời giã biệt gửi đến người vợ hiền, đứa con dại, cùng với sự lỳ lợm bản năng của một Kẻ Sĩ Bắc Hà luôn được vùng đất Ngàn Năm Văn Vật hun đúc… Có tất cả trong câu nói đó, câu nói mà tôi tin từ hôm nay sẽ là một câu nói nổi tiếng ghi danh đời đời của một con người ở trên cả sự can trường, mạnh mẽ nhất. Một câu nói không khoa trương hay lên gân nhưng lại là một câu về sự sống chết được nói ra, giản dị nhẹ nhàng như một câu nói vu vơ về những tia nắng sớm đầu đông, hay về cách chim nhạn lạc cuối trời thu. Của một người con trai chưa báo hiếu được cho cha mẹ, chưa trả nợ tình nghĩa vợ chồng mà đã vội đem thân trai vào nơi gió bụi, và sẵn sàng những điều đang làm đó mà đánh đổi tất cả, kể cả cái chết. Mà cái chết thì nhẹ như lông hồng trước gió…

Chỉ có anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh và những con người quả cảm mà giờ đây không còn vô cảm trước cơ đồ dân tộc, trước vận hội của quốc gia, đã chấp nhận dấn thân, chấp nhận trả giá tất cả, kể cả phải nằm xuống bình thản như:

Anh nông dân buông cày nằm giữa ruộng,
Và thiếp đi trong giấc ngủ trưa hè…

Phải, đó là một tuyên ngôn giản dị, đó là một lẽ sống chân thành của anh. Một người cầm bút chân chính nhưng cũng là một chiến sĩ chấp nhận phơi thây nơi chiến hào. Chỉ để chứng tỏ một điều rằng, đời người cũng chỉ có một lần chết. Hãy sống sao cho xứng đáng với tổ tiên, với dân tộc và với bao tiền nhân sáng chói khác. Hãy sống làm sao để cho dân tộc Việt Nam yêu quí của chúng ta thấy rằng, nước Nam không thiếu những người Nam sẵn sàng đền nợ cho non sông, xứ sở…

Nếu là Người, tôi xin chết cho quê hương!

Kiểm soát quyền lực: “Có những người bán rẻ Tổ quốc vì quyền lợi cá nhân”

TuanVietNam

Vũ Ngọc Hoàng

22-9-2016

TS Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng.

“Có những người lúc đầu khi chưa có quyền lực thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân”.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở – quyền lực và kiểm soát quyền lực.

Quyền lực như “con ngựa” bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương thì nó sẽ tung phá, gây đổ ngã và làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.

Năm 2011, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập, dù là mới thoáng qua, việc kiểm soát quyền lực. Rất tiếc là chủ trương đó chưa được triển khai thực hiện cụ thể. Trước và trong Đại hội XII, Tổng Bí thư của Đảng ít nhất đã hai lần nhấn mạnh phải kiểm soát quyền lực.

Gần hai năm trước, trong bài “Tham vọng quyền lực và sự tha hóa”, tôi có viết ý kiến về kiểm soát quyền lực và trả lời phỏng vấn của báo chí về việc này. Thời gian gần đây một số tờ báo có đặt vấn đề phỏng vấn tôi yêu cầu nói tiếp ý kiến về kiểm soát quyền lực. Đó là lý do khiến tôi viết tiếp bài này trao đổi thêm để bạn đọc tham khảo.

Câu hỏi trước tiên cần nói thêm là vì sao phải kiểm soát quyền lực? nếu không kiểm soát quyền lực thì sẽ thế nào?

Mặt tiêu cực của quyền lực

Quyền lực vốn là của cộng đồng nhân dân, khởi đầu là thế, và mãi mãi cũng là thế, không phải của thần linh, không phải của bất kỳ cá nhân ai, của một gia đình trị hoặc một tộc họ nào; cũng không phải của bất kỳ một tổ chức nào khác.

Từ lâu Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được và đã nhiều lần khẳng định trong các Nghị quyết rằng quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân không trực tiếp nắm giữ tất cả, mà chỉ nắm giữ một số vấn đề then chốt (sẽ nói sau), còn lại là ủy quyền cho nhà nước quản lý và sử dụng quyền lực để bảo vệ và phục vụ nhân dân, kiến tạo một quốc gia phát triển.

Tuy nhiên, trong lịch sử, đã từng có không ít trường hợp những người (hoặc nhóm người) bằng các thủ đoạn chính trị đã cướp đoạt quyền lực của nhân dân, biến nhân dân thành đối tượng bị cai trị. Nhân dân sau khi ủy quyền thì mất quyền, còn người được ủy quyền thì dần dần bị quyền lực làm tha hóa. Họ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà để phục vụ lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, cho một nhóm người, họ quay lại ức hiếp nhân dân, biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành đối tượng bị chèn ép, bị ức hiếp, bị tước đoạt.

Ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có nhân cách tốt.

Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân.

Cá biệt có những người thay đổi bản chất rất nhanh, chỉ sau một lần bỏ phiếu, họ gần như trở thành một người khác hẳn, từ dáng đi, cách nói, cách bắt tay. Họ khệnh khạng hơn, có vẻ “oai vệ” hơn, “bề trên” hơn. Khi người ta đến được đỉnh cao của “chiến thắng” trong quyền lực thì đấy là lúc người ta bắt đầu thua, mà trước tiên là thua chính mình.

Trên đỉnh cao của quyền lực ít ai nhìn thấy tai họa ẩn chứa vốn có từ bên trong quyền lực ấy, nếu không phải là người lãnh đạo có nhân cách lớn, minh triết uyên thâm, có khả năng vượt qua chính mình và ma lực cám dỗ của quyền lực, để tịnh tâm nhìn xa trông rộng. Khi đã có trong tay tất cả thì đấy cũng là lúc tự mình bắt đầu đánh mất dần.

Tha hóa quyền lực dẫn đến sụp đổ chế độ  

Việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân, được sử dụng đúng mục đích, không bị lợi dụng, lạm quyền. Khi quyền lực bị lạm dụng thì tất yếu sẽ tha hóa bộ máy cầm quyền, và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tha hóa đạo đức xã hội.

Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.

Có những suy nghĩ rất ấu trĩ sai lầm khi cho rằng nắm cho chắc lực lượng vũ trang là có thể đẩy lùi sự sụp đổ. Không đâu! Liên Xô ngày trước cả quân đội và lực lượng an ninh KGB còn rất mạnh, bậc nhất thế giới, vậy mà đến một lúc, khi sự tha hóa đã đến ngưỡng, thì cả một chế độ được cho là thành trì ấy bỗng chốc đổ ào, đến mức không tưởng tượng được, không hiểu nổi.

Nhiều người đã giải thích rằng do địch phá bằng “diễn biến hòa bình”… Không phải như thế đâu! Đấy là cách giải thích miễn cưỡng, không có cơ sở khoa học, tự trấn an mình. Địch thì lúc nào mà chả phá ta? Do phá ta nên nó mới là địch. Địch mà không phá ta mới là chuyện lạ.

Phá là việc của địch, còn ngã đổ là chuyện của ta. Nếu cử đổ lỗi cho địch thì rồi chẳng biết cách nào mà sửa. Địch phá Liên Xô ư? Phá sao bằng thời kỳ trước đó, khi 14 nước đế quốc tập trung bao vây nhà nước nhân dân còn non trẻ, rồi nội chiến, rồi chủ nghĩa phát-xít đã tập trung cao độ lực lượng với nửa nghìn sư đoàn thiện chiến trong đại chiến thế giới lần thứ 2 để tiêu diệt Liên Xô, nhưng không tiêu diệt được.

Ngược lại, Liên Xô đã lớn mạnh thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Sao bây giờ địch giỏi vậy, tài tình vậy, chẳng tốn một viên đạn mà Liên Xô vẫn đổ ào không cứu vãn được, cứ như một cơn đột quỵ dữ dội và bất ngờ. Địch mà giỏi như vậy thì thật đáng kính phục?

Những nhà tuyên truyền “ngây thơ” đã vô tình tâng bốc địch, vậy mà cứ tưởng thế mới là có lập trường địch – ta. Bản chất của vấn đề Liên Xô đổ là tự đổ, do tha hóa quyền lực mà đổ, do không thể tự đứng được nữa mà đổ, do thối nát mà đổ, chứ chẳng phải ai xô ngã được.

Tham nhũng, lợi ích nhóm lan cả vào chốn thiêng liêng

Đặc điểm chính trị quan trọng nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) chân chính là quyền lực thật  sự và luôn luôn thuộc về nhân dân. Chỉ khi ấy mới có một nền chính trị thật sự tốt đẹp và bền vững.

Thực tế lịch sử nhân loại đã cho thấy: nhà nước của chủ nô, của vua và các tập đoàn phong kiến, nhà nước của quan lại tha hóa (như Liên Xô giai đoạn sau chẳng hạn) và nhà nước của tài phiệt (tư bản hoang dã thời kỳ đầu) cuối cùng đều phải ngã đổ và kết thúc. Chỉ có nhà nước của dân, thật sự của dân, thì mới bền vững lâu dài, vì dân là vạn đại.

Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực vừa là giá trị nhân văn của một xã hội tiến bộ, phòng chống sự tha hóa của Nhà nước và xã hội, đồng thời là để thực hiện mục tiêu XHCN chân chính, để có được một nhà nước bền vững lâu dài phục vụ nhân dân.

Khi quyền lực không được kiểm soát thì mặt trái của nó chính là tác nhân quan trọng nhất làm tha hóa cán bộ, tha hóa những con người được trao quyền lực, rồi tha hóa cả bộ máy, làm cho bộ máy bị biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà dần dần thành nhà nước phản bội nhân dân.

Trong bất kỳ điều kiện nào, sự tha hóa quyền lực ở cán bộ và các cơ quan lãnh đạo quản lý, đều là nguyên nhân lớn nhất làm cho đạo đức xã hội xuống cấp, văn hóa suy đồi, dân tộc bị mất dần sức mạnh nội sinh, xã hội trì trệ và quốc gia không thể hưng thịnh, không có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu XHCN tốt đẹp mà nhiều người đã từng mong ước cũng trở nên xa vời và mơ hồ.

Lịch sử nước ta đã từng có nhiều lần do tha hóa quyền lực mà dẫn đến mất nước. Hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bị sụp đổ vì tha hóa quyền lực. Triều đại sau được dân chúng ủng hộ lên thay, rồi cũng tha hóa tương tự, lặp lại như cũ. Ngay cả những triều đại đã một thời rất huy hoàng, có công lao to lớn bậc nhất với lịch sử dân tộc nhưng sau đó cũng tha hóa và sụp đổ (như nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê và Tây Sơn chẳng hạn).

Nhiều năm qua lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã rất nhiều lần đề ra chủ trương và kêu gọi phải chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm” tiêu cực, cũng đã mất nhiều công sức cho công việc khó khăn và vất vả này, nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế. Tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm” chẳng những không dừng lại, mà đang còn khá phổ biến và phức tạp, gây nhức nhối xã hội, đau đầu các cơ quan lãnh đạo đất nước.

Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng (như lĩnh vực dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…).

Điều đó có nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất là chưa làm tốt việc kiểm soát quyền lực, nói thẳng và mạnh hơn là quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát, từ đó dẫn đến tha hóa cán bộ và các tổ chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý.

Nguyễn Tấn Dũng từng bước thầm trở lại sân khấu

CTV Danlambao – Sau khi buộc phải từ giã chính trường sau đại hội 12 để tập làm người tử tế, nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu có những xuất hiện trở lại sân khấu đang náo nhiệt và rầm rộ bởi chiến dịch đả muỗi diệt ruồi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Ngày rời ghế Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “Tôi rất thanh thản. Sau gần 55 năm chiến đấu, công tác, được Đảng, Nhà nước cho nghỉ chính sách, được trở về sống với đời thường, được thường xuyên quây quần với gia đình con cháu…”. 
Trong việc “trở về sống với đời thường” và “làm người tử tế”, người ta thấy Nguyễn Tấn Dũng đi thăm chùa Thiên Hưng tại Bình Định với những hình ảnh rất… tử tế bên cạnh nhiều người mặc áo thầy tu.
Tuy nhiên, chiêu trò hạ cánh an toàn với sống đời thường và tử tế không thể xuôi chèo mát mái dưới sự lãnh đạo của ông vua Nguyễn Phú Trọng. Nguyễn Tấn Dũng không thể và không bao giờ có cuộc sống của một thường dân với “số vốn” quyền và tiền vẫn còn là một cái núi mà phe nhóm của Nguyễn Phú Trọng phải vào vơ vét về.
Do đó, khó cho đàn anh Nguyễn Tấn Dũng có thể vào chùa chụp hình để PR làm người tử tế trong khi đàn em đang bị Nguyễn Phú Trọng bủa vây.
Sự xuất hiện của Nguyễn Tấn Dũng trong buổi Lễ công bố Quyết định của Bộ Chính trị về việc phân công Thượng tướng Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm giữ chức vụ Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nguyên là một bước khởi đầu cho sự tái xuất giang hồ của Nguyễn Tấn Dũng. (1)
Tại đây, bộ ba quyền lực ngày nào thao túng và cầm chịch Bộ Công an được tái ngộ: Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang và Tô Lâm. Hình ảnh của nguyên Bộ trưởng Công an và hiện là Chủ tịch nước Trần Đại Quang trao quyết định phân công cho BT BCA Tô Lâm và trao tặng kỷ niệm chương cho nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một thông điệp liên minh chính trị.
Để đối đầu với liên minh Dũng-Quang-Lâm, tìm cách không để cho “sự cố” Trịnh Xuân Thanh thứ 2 đào tẩu xảy ra, Nguyễn Phú Trọng chui vào Đảng ủy Công an Trung ương để giám sát Tô Lâm và tìm cách kiểm soát hoạt động của Bộ Công an (2).
Tại Sài Gòn, khi dư luận bắt đầu nóng với những phân tích về số phận của Đinh La Thăng trong chiến dịch thanh trừng thì Nguyễn Tấn Dũng bắt đầu xuất hiện. Đó là việc Nguyễn Tấn Dũng đảm nhận vai trò giảng viên cho lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho 400 cán bộ lãnh đạo tại thành Hồ. (3)
Khóa học này do Học viện Cán bộ TP. HCM tổ chức. Dĩ nhiên học viện này nằm trong địa bàn cai quản của Bí thư Đinh La Thăng – đàn em thân tín của Nguyễn Tấn Dũng.
Cho dù đây là một việc rất nhỏ nhưng là thông điệp chính trị khởi đầu để cho dư luận, nhất là thành phần cán bộ, đảng viên biết về quan hệ của cặp bài trùng Dũng-Thăng, như thông điệp tương tự về liên minh Dũng-Quang-Lâm tại Tây Nguyên vào tháng trước đó.
Trong cuộc đấu đá nội bộ, thông điệp chính trị gửi đến các đảng viên để tranh thủ sự ủng hộ –  dù rất nhỏ nhưng là quan trọng. Mục tiêu của nó là tạo gió để có sự ngả theo chiều gió trong đảng. Dũng, Quang, Thăng đang từng bước thực hiện việc đó với những bước chân từng bước từng bước thầm trở lại sân khấu của Nguyễn Tấn Dũng.
23.09.2016
________________________________

Cơ Trời dâu bể và sự thịnh, suy của Thủ tướng Phúc

Sao Băng (viet-studies) – Cựu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, trong một bài viết cho 71 năm Quốc khánh, đau khổ với dự cảm chính trường Việt sắp vào cuộc dâu bể đa đoan. Trong khi người kế nhiệm, Trần Đại Quang, mỡ màng béo tốt với cái cổ lút vào cằm…
Chính trường Việt loạn từ thượng tầng đến hạ tầng và cuộc khủng hoảng này đang trở nên nghiêm trọng nhất từ trước đến nay khi nó diễn ra một cách khá “bài bản” từ gốc đến ngọn. Tràn lan các cuộc đấu tố trong Đảng bắt đầu từ Bí thư các tỉnh, thành.
7 phát súng nổ ở Yên Bái, cả họ làm quan ở Hà Giang, tận tâm tận lực vơ vét tài sản ở Thanh Hóa…Và như cách Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thường nói, “tha hóa đến thế là cùng chứ còn đến thế nào”.
Có kẻ tâu lên ông Trọng rằng đó không phải là Đảng tha hóa, mà đã đến thời kỳ dân chủ, thông tin rộng mở, điều đáng mừng. Ông Tổng Bí thư lại bảo, “dân chủ đến thế là cùng chứ còn thế nào”
Nhưng trong thâm tâm, ông ta thừa hiểu, đó là sự mất đoàn kết nội bộ đến hồi không thể cứu vãn, khi không còn đứa nào biết sợ đứa nào.
Bởi trên thượng tầng của 19 ông bà ủy viên bộ chính trị, cũng không đứa nào sợ đứa nào, giờ chỉ nhìn nhau chờ ngày phát hỏa.
Nói theo cách của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, “chúng ta có thể cùng đi trên con đường lớn nhưng không thể đi chung trên các con đường nhỏ”
Mục tiêu lớn không còn, quay ra cắn xé để cát cứ quyền lực, âu cũng là quy luật tất yếu.
Di sản mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để lại là tinh thần kim tiền, vì mỹ kim mà phục vụ, đến độ Tòng Thị Phóng vỗ đít đứng lên, giận hờn nói giữa bộ chính trị, “vì Phóng không có tiền nên Phóng mới bị loại ra”. Ai nhiều tiền nhất, người đó sẽ làm chủ tình thế.
Nhưng gay go ở chỗ là phân tranh theo cách đó, thì hiện giờ không ai hơn ai. Hà Nội đành nhờ thiên triều “cân đo” ổn định đại cục giúp.
Tập Cận Bình bảo, “chúng mày phải tự ổn định nội bộ đã thì tao mới biết sẽ ra tay giúp cho đứa nào vào với đứa nào”
“Như ngày trước, cùng đoàn kết đánh Nguyễn Tấn Dũng. Chứ như bây giờ, can thiệp thế nào?”
Tổng Bí thư Trọng là người được thiên triều tin tưởng nhất nhưng giờ Bắc Kinh đã tràn đầy thất vọng về ông.
Vì rút cục, ông Trọng vẫn chỉ là giáo làng, với mái đầu bạc trắng và rưng lệ khi nhắc đến cái chết của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai, chứ ông ta không thể gây dựng nên đại nghiệp. Thiếu bản lĩnh, chỉ nhăm nhăm giữ đoàn kết nội bộ, nên ông Trọng luôn tìm cách hóa giải các mối quan hệ giữa các ông bà lớn sao cho họ thật chan hòa và yêu thương nhau!
Ông thúc các tướng của ông ra trận để đánh bóng cho uy phong của Đảng, nhưng một khi tình hình bị đẩy lên nóng quá, là lập tức ông ta mất hết khí phách và cãi cùn đúng tư chất giáo làng!
Với Đinh La Thăng là một ví dụ. Đinh La Thăng, một chính khách nửa mùa, tiền chất cao như núi, nhưng vẫn chỉ là mõ làng chính hiệu, được điều đi Nam tiến giễu võ giương oai, khua môi múa mép với đủ loại mỹ từ vì dân vì nước để nhồi sọ dân miền Nam về sự lãnh đạo tuyệt vời của Đảng.
Được ban cho cái ghế hời quá sức tưởng tưởng, Thăng xả thân liều mình như chẳng có. Ngặt nỗi, đất miền Nam toàn hào kiệt, Thăng thân cô thế cô, đầu óc lại chỉ bằng hạt đậu, càng xung trận càng tự giết mình. Trong các cuộc họp có Thăng cùng chủ trì, Chủ tịch UBNDTP Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong không bao giờ buồn nhếch mép.
Thứ duy nhất có thể mang lại cho Thăng một chút vị thế ở Sài gòn, là tiền. Vì thế, ngay khi ngồi ghế này chưa nóng chỗ, Thăng ra sức đòi trung ương 10 nghìn tỷ đồng thưởng do TPHCM thu ngân sách vượt kế hoạch.
Nhưng chỉ nhận được 453 tỷ đồng, chưa đến 5%. Thua xa thời kỳ Lê Thanh Hải còn làm Bí thư. Như năm 2015, Hải đòi được trung ương thưởng tới 2300 tỷ đồng.
Thế là như giọt nước tràn ly, tướng sỹ miền Nam hợp lực lại, với thế trận “theo vết dầu loang”moi ra chiếc xe tư nhân biển xanh của Trịnh Xuân Thanh, một trong 3 thành viên của Tập đoàn 3 T “Thanh, Thăng, Thuận”, ép ngược ra ngoài Bắc bắt làm ra cho ra lẽ. Đích cuối của họ, là làm nên một vết nhơ trong lý lịch Thăng để đẩy Thăng trở về miền Bắc.
Giống như thời kỳ Trương Tấn Sang làm Bí thư Sài gòn, cũng vì vết nhơ trong lý lịch bởi vụ trọng án Năm Cam, đã bị đẩy ra Bắc kỳ làm Trưởng ban Kinh tế Trung ương.
Ông Trọng an ủi Thăng, “tất cả quyền lực trong tay Đảng, bảo tròn là tròn, bảo méo là méo. Cứ làm cho lớn chuyện tạo thanh thế cho Đảng, mình “quang minh chính đại”, sợ gì?”
Thăng ngu, đàn em của Thăng cũng vậy, chủ nào tớ đó, nên Trịnh Xuân Thanh cứ tưởng Trọng sẽ làm thật. Chính trường vốn đã chia năm xẻ bảy, dụng ý của Trọng, một vài phe nhóm khác đều biết cả, nên có kẻ tự nhiên mới mở lòng tốt cho Thanh cao chạy xa bay. Đổi lại, Thanh phải ra mặt đấu tố Trọng.
Uy tín của Tổng Bí thư rớt thảm hải chưa từng có, trong khi, một kịch bản đẹp đã được sẵn sàng, rằng mọi việc sẽ chỉ dừng lại đến Trịnh Xuân Thanh, Thanh xộ khám đôi năm rồi sẽ lại trở ra sống như ông hoàng, Thăng vẫn trụ đất Nam kỳ để làm người truyền giáo cho Đảng. Giờ thì đổ bể cả.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cần nhìn gương tày liếp của Bí thư Sài gòn Đinh La Thăng. Kẻo không, một ngày không xa nữa ngay trong nhiệm kỳ này, Tổng Bí thư Trọng sẽ nắm tay Thủ tướng Phúc mà rưng rưng, “thôi chúng mình đều đã tận lực vì Đảng, vì đất nước, đến lúc cùng nghỉ ngơi được rồi”.
Bởi vì Thủ tướng Phúc cũng như Bí thư Thăng, cứ ngỡ cái ghế mình được trao cho đã là tột đỉnh vinh quang, nên xả thân liều mình một cách mù quáng, bất chấp thực lực, bất chấp hậu quả, chỉ làm sao đánh bóng cho được hình ảnh Đảng, vốn đã trở nên quá tồi tàn trong lòng dân.
Ngay từ lúc này, một cuộc đấu tố ông Phúc trong Bộ Chính trị đã được hình thành với kịch bản ngày càng rõ nét. Nào là, toàn mang lại vận xui cho đất nước; Nào là kích động tình trạng truy tìm người nhà trên toàn quốc gây mất đoàn kết nghiêm trọng trong cả hệ thống; Nào là kích động doanh nghiệp chống lại chính quyền. Nào là thu vén quyền lực cá nhân khi nghĩ cách đẻ ra đủ loại quy chế…
Ông Phúc được sự hỗ trợ lớn từ Trời đất, bởi vậy, ông ta luôn được nhắc nhở để giữ mình. Chẳng hạn, khi hồi còn là Phó Thủ tướng, khi lần đầu tiên trả lời chất vấn ở QH, không phải người màu mè bay bướm gì, nhưng đột nhiên ông Phúc nói, “một chiếc thuyền bị chìm hay một chiếc máy bay bị nổ, thì đó đều là trách nhiệm của Chính phủ”. Không lâu sau, quả nhiên có chiếc máy bay bị nổ thiêu cháy 20 mạng người.
Khi lên Thủ tướng, tần suất ông Phúc được nhắc nhở dày đặc hơn, nhưng có vẻ vị Thủ tướng vốn mù tịt về những gì liên quan đến tâm linh này, không đủ nhạy cảm để nghĩ ra, nên vẫn luôn ra sức “chém”, không hề ý thức được đã mang chân mệnh thiên tử, thì “lời nói là đọi máu”. Nói phải nghĩ, phải xem có làm được không chứ không phải nói suông, nói cho đẹp hình ảnh.
Hồi tháng 5, CASA 212 rơi, sáng ông họp Chính phủ chỉ đạo rất hăng bằng mọi giá phải tìm bằng được phi công, ngay trưa hôm đó rơi thêm cái nữa kéo thêm 9 mạng người tha hồ cho tìm bằng mọi giá!
Ông vừa chỉ đạo, “chúng ta bắn chỉ thiên quá nhiều rồi mà không trúng ai. Giờ bắn đâu phải có địa chỉ”. Ngay sau đó, diễn ra như phim hành động, Bí thư Yên Bái lãnh trọn 3 phát đạn vào đầu và dân tình trầm trồ “đúng địa chỉ”…
Nếu thực sự muốn xây dựng được một Chính phủ vì dân, thì ông phải củng cố được sức mạnh của bản thân ngay từ bộ máy của mình, để trên bảo dưới phải nghe.
Nhưng ông Phúc chỉ thích hô xung phong để làm Đảng vui. Những người đồng chí của ông, bề ngoài ra sức tán tụng “Thủ tướng thế mới là Thủ tướng”, đằng sau, họ cười mỉa mai đếm ngược đến ngày ông ngã.
Phó Tướng của ông Phúc, Vương Đình Huệ, dựng cờ chiêu binh mãi mã từ tàn quân của cựu Thủ tướng Dũng trong Chính phủ để tạo thế đứng cho mình, bên ngoài thì cấu kết với Trần Đại Quang, Phạm Minh Chính, soạn sửa tạo nên thế lực mới thống lĩnh các sứ quân, phò tá cho Trần Đại Quang đi trọn chặng đường 10 năm.
Nhưng bộ ba này cũng lắm kẻ thù. Đinh Thế Huynh Thường trực Ban Bí thư ghét nhất ngụy quân tử Quang mặc dù cả hai đều là chính khách miền Bắc và không ưa gì tay xứ Thanh, Phạm Minh Chính chuyên thói đời lật lọng giống hệt bản chất Vương Đình Huệ.
Nguyễn Văn Bình Trưởng ban Kinh tế Trung ương ôm hận chờ ngày phục thù, nguyện không cùng bầu trời cùng Huệ. Võ Văn Thưởng vẫn ôm mộng trở về trời Nam, mặc cho quân tuyên giáo và báo chí trăm hoa đua nở, trong khi Hoàng Trung Hải lặng lẽ ém ở Hà Nội chờ ngày khởi binh…
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân sẽ mở ra một trang mới cho Quốc hội sôi động chưa từng có. Nếu như thời Nguyễn Sinh Hùng o bế che chắn cho một vài thế lực trong Chính phủ thì đến thời của Ngân, tất cả đều không có “vùng cấm”, tố được càng nhiều ở Nghị trường thì sẽ càng vui. Thế nên mới có chuyện Ủy ban Tư pháp của Quốc hội bỗng nhiên phát hiện ra Chính phủ đã ăn bớt đi từ “nghiêm trọng” trong báo cáo đánh giá về phòng chống tham nhũng.
Ngô Xuân Lịch và Tô Lâm ngồi ở Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cũng như ngồi trên đống lửa. Ngô Xuân Lịch đã từng phải nhờ đến kế “quả giả chết” mới sống được để ngồi lên ghế Bộ trưởng Quốc phòng. Còn Tô Lâm thì nắm Bộ Công an cũng như luôn đứng trước họng súng vô hình có thể nhả đạn vào ông ta bất kỳ lúc nào.
Nhìn 7 người trong Thường vụ Đảng ủy công an Trung ương, cũng thấy các thế lực đối nhau như nước với lửa mà vẫn phải chung một mâm thì giữ ổn định bình yên cho dân thế nào? Như Thượng tướng Bùi Văn Nam, người đã làm rối tung cả Bộ Công an nhiệm kỳ trước với loạt 12 bài ”Ai đang làm khánh kiệt đất nước” trên mạng xã hội dưới bút danh Dương Vũ, đánh thẳng vào Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang, Nguyễn Văn Bình, moi ra đến cả chuyện nhà Trần Đại Quang có tới 7 người đi tu để tích đức cho ông này lên hàng nguyên thủ…
Ông Nam sau đó được Đảng thưởng công cho vé vớt vào Trung ương Đảng khóa 12.
Không ở đâu còn có được sự ổn định và an toàn. Thù hận sâu cay và chồng chất, chằng chịt toàn bộ máy.
Từng đọc hai câu thơ rất “tự kỷ ám thị” khi nhận chức Chủ tịch QH vào năm 2006, rằng, “nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn/ khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay”, Tổng Bí thư Trọng cai trị theo cách ngửa mặt nhìn Trời, tự cho đó là “thượng thiên hành đạo”.
Ông Trọng cũng sớm biết Trời đất sẽ chọn ai để thay thế mình thống nhất thiên hạ.
Nhưng ông có đủ bản lĩnh để tuân theo mệnh Trời bảo vệ đến cùng cho người đó lên kế vị hay không?
Cơ Trời dâu bể đa đoan. Vận nước có lẽ đã đến hồi mạt.
Đáng buồn đau hơn cả, là các cơn biến động nhân gian sẽ dồn cả lên đầu dân chúng như quy luật muôn đời nay vẫn thế, vua làm sai, Trời đày đọa dân.
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 22-9-16